September 28, 2024
Ngày 28/09/2024
Saññā has two components: one is recognizing “things in the world,” but the other is presenting a “made-up” sense of attractiveness or repulsiveness of things in the world. The second aspect of saññā leads to avijjā, which in turn leads to acting with sakkāya diṭṭhi (the wrong view that worldly things can provide happiness), taṇhā (craving sensory pleasures), and māna (sense of a “me/mine.”) Those are removed in stages, and māna removed at the Arahant stage.
Saññā có hai phần: một là nhận biết “các sự vật trong thế giới,” và phần còn lại là tạo ra một “cảm giác hấp dẫn hay chán ghét” được “tự dựng nên” đối với các sự vật ấy. Phần thứ hai của saññā dẫn đến avijjā, từ đó dẫn đến hành động với sakkāya diṭṭhi (tà kiến rằng các sự vật trong thế gian có thể đem lại hạnh phúc), taṇhā (khao khát khoái cảm giác quan) và māna (cảm giác về “ta/của ta”). Những thứ này được đoạn trừ theo từng tầng, và māna được đoạn trừ ở tầng Arahant.
Three Types of Saññā
Ba Loại Saññā
- In the previous post, we discussed three categories of saññā: (i) an “innate sense” of recognition of the sensory input, (ii) an “innate sense” of finding one’s way in the world to optimize survival, and (iii) an “innate sense” of “distorted evaluation/description” of sensory experiences. You may want to review it; see “Saññā – Hidden Aspect of Paṭicca Samuppāda.”
Trong bài trước, chúng ta đã bàn về ba loại saññā: (i) một “cảm nhận bẩm sinh” để nhận biết đầu vào giác quan, (ii) một “cảm nhận bẩm sinh” giúp định hướng và vận hành trong thế giới để tối ưu sinh tồn, và (iii) một “cảm nhận bẩm sinh” về “sự đánh giá/miêu tả bị bóp méo” của các trải nghiệm giác quan. Bạn có thể xem lại trong “Saññā – Hidden Aspect of Paṭicca Samuppāda.”
- The “innate sense” comes to mind automatically since it is “built-in” to our bodies via Paṭicca Samuppāda.
“Cảm nhận bẩm sinh” sinh khởi tự động vì nó được “cài đặt sẵn” vào thân tâm chúng ta qua Paṭicca Samuppāda.
- The first two categories discussed there are beneficial and even necessary for survival. The first is to recognize a sensory input, whether a specific type of tree, music, food, or the identity as father/mother or a particular color, etc. The second category is mainly seen in the animal realm; it helps their survival by providing a “built-in” sense of navigation or instructions to construct shelters ranging from simple bird nests to sophisticated “megacities” built by ants.
Hai loại đầu tiên được bàn đến là có lợi và thậm chí cần thiết cho sự sống còn. Loại đầu tiên là nhận biết một đầu vào giác quan, như một loại cây, âm nhạc, thức ăn, hay tư cách cha/mẹ, hoặc một màu sắc nào đó. Loại thứ hai chủ yếu thấy trong cõi súc sinh; nó giúp chúng sinh tồn bằng cách cung cấp một khả năng định hướng “tự có” hoặc những chỉ dẫn bẩm sinh để xây dựng nơi trú ẩn, từ tổ chim đơn giản đến những “đại đô thị” phức tạp do loài kiến xây dựng.
- The third category we discussed is even more critical because it leads to suffering. It is a “false/distorted saññā” of the sensory experience.
Loại thứ ba mà chúng ta đã bàn đến còn quan trọng hơn, vì nó dẫn đến khổ. Đó là “saññā sai lệch/sai lầm” của trải nghiệm giác quan.
- An overview of how the “false/distorted saññā” arises in the three “lokās” can provide helpful insights into Buddha’s teachings.
Một cái nhìn tổng quan về cách “saññā sai lệch/sai lầm” sinh khởi trong ba “lokā” có thể đem lại những hiểu biết hữu ích về giáo pháp của Đức Phật.
All Three Categories Are “Built-In”
Cả Ba Loại Đều Được “Cài Đặt Sẵn”
- All three types of saññā are “built-in” to each living being.
Cả ba loại saññā đều được “cài đặt sẵn” trong mỗi chúng sinh.
- Humans and animals are first born with a “mental body” created entirely by kammic Since that kammic energy was created by the mind (mano), it is called a manomaya kāya (“mind-made body.”) It is also called “gandhabba” in the Tipiṭaka. See “Gandhabba State – Evidence from Tipiṭaka.” When that manomaya kāya is “pulled into a womb,” it will be born with a dense physical body (“sarīra”; sometimes called “karaja kāya”). Since a human gandhabba can live for thousands of years, it could be born with a physical body (which has a lifetime of around a hundred years) many times. Further details are at “Mental Body – Gandhabba.” [sarīra : [nt.] the body.]
Con người và súc sinh trước hết sinh ra với một “thân tâm” được tạo hoàn toàn bởi năng lượng kamma. Vì năng lượng kamma ấy được tạo bởi tâm (mano), nên nó được gọi là manomaya kāya (“thân do tâm tạo”). Trong Tipiṭaka nó cũng được gọi là “gandhabba.” Xem “Gandhabba State – Evidence from Tipiṭaka.” Khi manomaya kāya ấy “được kéo vào tử cung,” nó sẽ sinh ra với một thân vật lý thô nặng (“sarīra”; đôi khi được gọi là “karaja kāya”). Vì một gandhabba của loài người có thể tồn tại hàng ngàn năm, nó có thể được sinh cùng một thân vật lý (có tuổi thọ khoảng một trăm năm) nhiều lần. Chi tiết thêm ở “Mental Body – Gandhabba.” [sarīra : [nt.] cơ thể.]
- As we know, Devās in the six Deva realms and Brahmās in the 20 Brahma realms are born with only one “body” (kāya). They are opapātika (instantaneous) births. They live with that manomaya kāya throughout their lives.
Như ta biết, các Devā trong sáu cõi Deva và các Brahmā trong hai mươi cõi Brahma chỉ sinh ra với một “thân” (kāya). Đó là kiểu sinh opapātika (sinh ngay lập tức). Họ sống trọn đời với manomaya kāya ấy.
- All three types of saññā are “built-in” to each “kāya” associated with a living being. All three types of saññā are “built into” the manomaya kāya (gandhabba) and the physical body of a human or an animal.
Cả ba loại saññā đều được “cài đặt sẵn” vào mỗi “kāya” của chúng sinh. Chúng đều được “cài đặt sẵn” vào manomaya kāya (gandhabba) và cả thân vật lý của con người hay súc sinh.
Reasons for Three Types of Saññā
Lý Do Tồn Tại Ba Loại Saññā
- A “lifestream” moves from realm to realm in the world automatically according to Nature’s laws (Paṭicca Samuppāda and laws of kamma).
Một “dòng sinh mệnh” di chuyển từ cõi này sang cõi khác trong thế giới theo các quy luật tự nhiên (Paṭicca Samuppāda và luật kamma).
- Even though we live “human lives” now, we had been born in most of the 31 realms (except those reserved for Anāgāmis) in our deep past.
Dù hiện tại ta sống trong “đời sống loài người,” nhưng trong quá khứ sâu xa ta đã từng sinh vào hầu hết 31 cõi (trừ các cõi dành cho Anāgāmi).
- Thus, each of us had lived in most of the Brahma realms and the six Deva realms many times over, in addition to human births. We had many more births in the lowest four realms (apāyās) than in the human and higher realms combined.
Như vậy, mỗi người trong chúng ta đã từng sống trong phần lớn các cõi Brahma và sáu cõi Deva nhiều lần, ngoài các lần sinh làm người. Chúng ta đã sinh vào bốn cõi khổ (apāyā) nhiều hơn tổng số lần sinh vào cõi người và các cõi cao hơn.
- When our existence in the human realm ends, our lifestream will latch on to the strongest kamma bīja
Khi sự tồn tại trong cõi người chấm dứt, dòng sinh mệnh sẽ bám vào kamma bīja mạnh nhất còn lại.
- For example, if one had cultivated a jhāna, rebirth in the corresponding Brahma realm would result; now, you are no longer a human but a Brahma. That Brahma would have no idea about his previous life as a human (in the same way we have no idea of our past existences). On the other hand, if one had killed a parent, for example, one would be born in one of the four lowest realms, probably the lowest, called a niraya. In those two examples, the outcomes are guaranteed because they are ānantariya kamma. In the absence of an ānantariya kamma, the strongest kamma bīja available will determine the next existence.
Ví dụ, nếu một người từng tu tập đạt jhāna, họ sẽ tái sinh vào cõi Brahma tương ứng; lúc đó họ không còn là người mà là Brahma. Vị Brahma ấy sẽ không biết gì về kiếp người trước đó của mình (giống như chúng ta không biết gì về các kiếp trước). Ngược lại, nếu ai đó sát hại cha hoặc mẹ, họ sẽ sinh vào một trong bốn cõi khổ, có lẽ là cõi thấp nhất, gọi là niraya. Trong hai trường hợp này, kết quả là chắc chắn vì đó là ānantariya kamma. Nếu không có ānantariya kamma, kamma bīja mạnh nhất sẽ quyết định sự sinh khởi tiếp theo.
“Distorted/False Saññā” Associated With the Three “Lokās”
“Saññā Sai lệch/Sai lầm” Gắn Với Ba “Lokā”
- A specific type of “distorted/false saññā” is “built into” all the existences in this world. Existences in the world can be divided into three “lokās”: Those with all six sensory faculties live in kāma loka (four apāyās, the human realm, and six Deva realms). Rūpāvacara Brahmās (with three sensory faculties and subtle “bodies” at the level of suddhaṭṭhaka) live in 16 realms in the “rūpa loka.” Arūpāvacara Brahmās with only the mind live in four realms in the “arūpa loka.” Also, see “How Character (Gati) Leads to Bhava and Jāti.”
Một dạng “saññā sai lệch/sai lầm” đặc thù được “cài đặt sẵn” vào mọi dạng tồn tại trong thế giới này. Các dạng tồn tại có thể được chia thành ba “lokā”: những chúng sinh có đủ sáu căn sống trong kāma loka (bốn apāyā, cõi người và sáu cõi Deva). Các Rūpāvacara Brahmā (có ba căn và thân vi tế ở mức suddhaṭṭhaka) sống trong 16 cõi của “rūpa loka.” Các Arūpāvacara Brahmā chỉ có tâm sống trong bốn cõi của “arūpa loka.” Xem thêm “How Character (Gati) Leads to Bhava and Jāti.”
- Living beings in “kāma loka” receive a false/distorted kāma saññā. Rūpa loka Brahmās receive a false/distorted jhānic saññā and Arūpa loka Brahmās receive a false/distorted arūpa samāpatti saññā.
Chúng sinh trong “kāma loka” nhận một kāma saññā sai lệch/sai lầm. Các Brahmā ở rūpa loka nhận một jhānic saññā sai lệch/sai lầm, và các Brahmā ở arūpa loka nhận một arūpa samāpatti saññā sai lệch/sai lầm.
- “Distorted Saññā” is built into humans’ and animals’ physical and mental bodies (and the subtle bodies of the Brahmās), so it arises automatically. Even after attaining magga phala or even the Arahant stage, those built-in saññās Thus, an Arahant would also taste honey as sweet.
“Saññā Sai lệch” được cài đặt vào cả thân vật lý lẫn thân tâm của loài người và loài vật (và cả thân vi tế của các Brahmā), nên nó sinh khởi tự động. Ngay cả sau khi chứng magga phala hay Arahant, các saññā được cài đặt sẵn ấy vẫn còn. Vì thế, một Arahant vẫn cảm thấy mật ong là ngọt.
- However, nothing in this world has an intrinsically beautiful/ugly or tasty/distasteful nature. Arahants fully understand that and that is why their minds do not attach to that “distorted/false saññā.”
Tuy nhiên, không có gì trong thế giới này có bản chất đẹp/xấu hay ngon/dở bẩm sinh. Arahant hiểu hoàn toàn điều đó, và vì vậy tâm họ không chấp thủ vào “saññā sai lệch/sai lầm” ấy.
Features of a Brahma in “Rūpa Loka”
Đặc Điểm Của Một Vị Brahma Trong “Rūpa Loka”
- Let us consider a human who separates from the human realm and is born a Brahma in one of the 16 realms of the “rūpa loka.”
Hãy xét một người tách khỏi cõi người và tái sinh làm một Brahma trong một trong 16 cõi thuộc “rūpa loka.”
- A Brahma has no physical body like ours. A Brahma has only a “mental body” (with only a trace of matter) that cannot be seen with our eyes. Of course, that is hard to imagine for us.
Một Brahma không có thân vật lý như chúng ta. Brahma chỉ có một “thân tâm” (chỉ có một chút vật chất vi tế) mà mắt người không thể thấy được. Dĩ nhiên, điều đó khó hình dung đối với chúng ta.
- The amount of “matter” in a Brahma’s “body” is much smaller than that of a tiny ant or even a virus/bacteria.
Lượng “vật chất” trong “thân” của một Brahma còn nhỏ hơn nhiều so với một con kiến bé xíu, thậm chí nhỏ hơn cả một virus hay vi khuẩn.
- Even though a “Brahma body” has very little “matter,” its “subtle body” could spread over a sizeable spatial dimension. Therefore, each Brahma would have “identifiable features,” just like we can see the difference between any two people.
Dù “thân Brahma” có rất ít vật chất, nhưng “thân vi tế” của họ có thể lan rộng trên một phạm vi khá lớn. Vì vậy, mỗi Brahma có những “đặc điểm nhận diện,” giống như chúng ta có thể phân biệt giữa hai người.
- For example, when the Buddha visited Baka Brahma, he went there not in his “human body” but only in his “mental body,” which is as subtle/fine as a “Brahma” See “WebLink: suttacentral: Brahmanimantanika Sutta (MN 49).” Still, the Baka Brahma recognized the Buddha, and vice versa.
Ví dụ, khi Đức Phật viếng Baka Brahma, Ngài không đi bằng “thân người” mà bằng “thân tâm,” vi tế như “thân Brahma.” Xem “WebLink: suttacentral: Brahmanimantanika Sutta (MN 49).” Dù vậy, Baka Brahma vẫn nhận ra Đức Phật, và Đức Phật cũng nhận ra ông.
- A rūpa loka Brahma does not need to breathe since he has no physical body. Brahma realms are assumed to be located well above Earth, where an atmosphere is absent.
Một Brahma ở rūpa loka không cần thở vì họ không có thân vật lý. Các cõi Brahma được xem là nằm cao hơn nhiều so với Trái Đất, nơi không có khí quyển.
- A Brahma has no sex organs and thus has no concept of sex. He does not need to eat and has no sense of smell. He can only see, hear, and think.
Một Brahma không có cơ quan sinh dục và do đó không có khái niệm về tình dục. Họ không cần ăn và không có khứu giác. Họ chỉ có thể thấy, nghe và suy nghĩ.
- Therefore, it would be impossible for “kāma saññā” to arise in a Brahma. Instead, Brahma’s mind is primarily in a jhānic state; instead, he would have “jhāna saññā.”
Vì vậy, “kāma saññā” không thể sinh khởi trong một Brahma. Tâm của Brahma chủ yếu ở trạng thái jhāna; họ có “jhāna saññā.”
- Furthermore, Brahma perceives that “jhāna saññā” as pleasurable. That is the “distorted/false saññā” associated with the rūpa loka Brahmās.
Hơn nữa, Brahma cảm nhận “jhāna saññā” ấy là lạc thú. Đó là “saññā sai lệch/sai lầm” đặc trưng của các Brahma trong rūpa loka.
- Unlike the human realms, there are no worries about earning a living to eat and buy clothes, houses, or cars. There is no need to steal, lie, or hurt anyone. A Brahma is “self-sufficient” for the duration of that existence.
Không giống cõi người, ở đó không có lo lắng về việc kiếm sống, ăn uống, mua quần áo, nhà cửa hay xe cộ. Không cần phải trộm cắp, nói dối hay làm hại ai. Một Brahma là “tự thân đầy đủ” trong suốt thời gian tồn tại của họ.
- Therefore, kāma rāga and paṭigha would not be manifested for the whole duration of Brahma’s existence. However, kāma rāga and paṭigha saṁyojana will still be associated with the Brahma. It is just that they cannot be triggered during that existence, because they don’t have any idea of what taste, smell, or touch (including sex) is. Once reborn in kāma loka, kāma rāga can be triggered again.
Vì vậy, kāma rāga và paṭigha sẽ không bộc lộ trong suốt đời sống của một Brahma. Tuy nhiên, kāma rāga và paṭigha saṁyojana vẫn còn gắn với vị ấy. Chúng chỉ không thể trỗi dậy trong cõi đó, vì Brahma không hề có khái niệm về vị, mùi, xúc (kể cả tình dục). Khi tái sinh vào kāma loka, kāma rāga có thể trỗi dậy trở lại.
Why Do Brahmās Not Have “Kāma Saññā”?
Tại sao các Brahma Không có “Kāma Saññā”?
- To be born a rūpa loka Brahma, humans must cultivate a jhāna. Those with lower jhānās are born in the lower Brahma realms, etc. By the way, those are “anāriya jhāna” cultivated using breath or kasiṇa meditations to calm the mind; of course, they must generally stay away from immoral deeds and sexual and other sensual activities.
Để được sinh làm một Brahma ở rūpa loka, con người phải tu tập đạt một jhāna. Người có jhāna thấp thì sinh vào các cõi Brahma thấp hơn, v.v. Nhân đây, những jhāna ấy là “anāriya jhāna,” được tu tập bằng thiền hơi thở hay kasiṇa để làm tâm lắng dịu; dĩ nhiên, họ phải tránh xa các hành động bất thiện, nhục dục và các hoạt động cảm dục khác.
- Cultivation of even an anāriya jhāna is not easy (unless one had cultivated jhāna in their recent previous lives).
Việc tu tập đạt thậm chí một anāriya jhāna cũng không dễ (trừ khi người ấy đã từng tu jhāna trong những kiếp gần đây).
- Anyone who has cultivated a jhāna would prefer “jhānic pleasure” over “sensual (kāma) pleasures.” Thus, even a puthujjana with an anāriya jhāna would have subsided kāma rāga. In other words, they have overcome the “kāma saññā” temporarily. That means even though they still feel the deliciousness of an expensive meal, they would not attach to it, seeking more of it. That is because they have experienced something better in a jhāna.
Bất kỳ ai đã tu tập đạt một jhāna sẽ ưa thích “lạc của jhāna” hơn “lạc cảm dục (kāma).” Vì vậy, ngay cả một puthujjana có anāriya jhāna cũng đã làm lắng xuống kāma rāga. Nói cách khác, họ đã vượt qua “kāma saññā” tạm thời. Điều đó có nghĩa là dù họ vẫn cảm thấy món ăn đắt tiền là ngon, họ sẽ không chấp vào nó để tìm kiếm thêm. Vì họ đã kinh nghiệm một loại hỷ lạc cao hơn trong jhāna.
“Saññā Nirodha” = Nibbāna
“Saññā Nirodha” = Nibbāna
- If that person proceeds to higher jhānās and cultivates an arūpa samāpatti, he will realize the inferiority of “jhānic pleasure” too. Thus, he would be able to overcome the “jhānic pleasure” that comes from “jhāna saññā” and embrace the “arūpa samāpatti saññā.”
Nếu người ấy tiến lên các jhāna cao hơn và tu tập arūpa samāpatti, họ cũng sẽ thấy sự thấp kém của “lạc jhāna.” Vì vậy, họ có thể vượt qua “lạc jhāna” phát sinh từ “jhāna saññā” và hướng đến “arūpa samāpatti saññā.”
- It is not easy for us to imagine, but overcoming even the “arūpa samāpatti saññā” is the best; that is called “nirodha samāpatti,” where any type of saññā is absent. This is equivalent to the state of any Arahant after the death of the physical body. Only an ubhatobāgha Arahant (who has gone through all the jhānās and arūpa samāpattis) can experience “nirodha samāpatti.”
Điều này khó tưởng tượng đối với chúng ta, nhưng vượt qua được cả “arūpa samāpatti saññā” mới là cao nhất; đó được gọi là “nirodha samāpatti,” nơi mọi loại saññā đều vắng mặt. Trạng thái ấy tương đương với trạng thái của một Arahant sau khi thân vật lý chấm dứt. Chỉ một vị Arahant ubhatobāgha (người đã đi qua tất cả jhāna và arūpa samāpatti) mới có thể trải nghiệm “nirodha samāpatti.”
- In the “WebLink: suttacentral: Nibbedhika Sutta (AN 6.63),” the Buddha declares, “The noble eightfold path leads to the cessation of saññā” or Nibbāna. As stated there, that happens with the cessation of “phassa,” which refers to the cessation of “samphassa” or “contact with defilements of rāga, dosa, moha.”
Trong “WebLink: suttacentral: Nibbedhika Sutta (AN 6.63),” Đức Phật dạy rằng “Bát Thánh Đạo dẫn đến sự chấm dứt của saññā,” tức Nibbāna. Như được nêu ở đó, điều này xảy ra khi “phassa” chấm dứt, nghĩa là chấm dứt “samphassa” — tức sự xúc chạm cùng các ô nhiễm rāga, dosa, moha.
- Furthermore, the cessation of “saññā” here refers only to overcoming attachment to the “distorted/false saññā” and not losing saññā while living. Thus, a living Buddha or an Arahant would still have all three types of saññā, but their minds will not attach to any of them.
Hơn nữa, sự chấm dứt của “saññā” ở đây chỉ nói đến việc vượt qua sự dính mắc vào “saññā sai lệch/sai lầm,” chứ không phải mất saññā khi còn sống. Vì vậy, một vị Phật hay một Arahant đang sống vẫn có cả ba loại saññā, nhưng tâm họ không chấp vào bất kỳ loại nào.
- What is the reason for a “distorted/false/misleading saññā” to arise?
Nguyên nhân khiến “saññā sai lệch/sai lầm/đánh lừa” sinh khởi là gì?
- The answer is: “Ignorance of the existence” of “distorted/false/misleading saññā.”
Câu trả lời là: “Không biết về sự tồn tại” của “saññā sai lệch/sai lầm/đánh lừa.”
- Until a Buddha is born in the world, no one would have the slightest idea of a “distorted/false/misleading saññā.” They wholeheartedly believe sensual pleasures, jhānic pleasures, and samāpatti pleasures are real!
Cho đến khi một vị Phật xuất hiện trên đời, không ai có chút khái niệm nào về “saññā sai lệch/sai lầm/đánh lừa.” Chúng sinh tin một cách trọn vẹn rằng khoái lạc giác quan, hỷ lạc jhāna, và lạc của samāpatti đều là thật!
- Thus, a living being will automatically attach to the innate or “built-in distorted/false/misleading saññā” associated with its realm. That perpetuates the rebirth process, and one will never be able to stop it until this fact about the nature of the world is understood.
Vì vậy, chúng sinh sẽ tự động chấp vào những saññā bẩm sinh hay “được cài đặt sẵn,” vốn là saññā sai lệch/sai lầm/ đánh lừa đặc trưng cho cõi của mình. Điều đó làm duy trì vòng tái sinh, và người ta không thể chấm dứt nó cho đến khi hiểu được sự thật về bản chất của thế giới.
- It is the ignorance about the existence of “distorted/false/misleading saññā” that leads to wrong views (in particular sakkāya diṭṭhi), craving pleasures in the world (taṇhā), and the sense of “me/mine” (māna.)
Chính sự không biết về sự tồn tại của “saññā sai lệch/sai lầm/đánh lừa” dẫn đến tà kiến (đặc biệt là sakkāya diṭṭhi), khát ái đối với các khoái lạc trong thế gian (taṇhā), và cảm giác “ta/của ta” (māna).
Root Cause of Wrong Views Is (Distorted) Saññā
Gốc Rễ Của Tà Kiến Là Saññā (Bị Sai Lệch)
- One time, the wanderer Vacchagotta asked the Buddha, “What is the cause for various wrong views (diṭṭhi) to arise?”
Một lần nọ, du sĩ Vacchagotta hỏi Đức Phật: “Nguyên nhân khiến các loại tà kiến (diṭṭhi) sinh khởi là gì?”
- The Buddha replied, “Saññāya kho, vaccha, aññāṇā, saññāsamudaye aññāṇā, saññānirodhe aññāṇā, saññānirodhagāminiyā paṭipadāya aññāṇā.” Here, “aññāṇa” means “ignorance” or “not being aware of.”
Đức Phật đáp: “Này Vaccha, do không biết về saññā, không biết về sự sinh khởi của saññā, không biết về sự chấm dứt của saññā, không biết về con đường đưa đến sự chấm dứt của saññā.” Ở đây, “aññāṇa” nghĩa là “vô minh” hay “không nhận biết.”
- Thus, the Buddha explains that one would have various types of wrong views (diṭṭhi) arise because of incomprehension of the true nature of saññā, the origin of saññā, and the way to get rid of that (distorted) saññā.” Therefore, this is one way to attain the Sotāpanna
Vì vậy, Đức Phật giải thích rằng người ta có thể khởi lên nhiều loại tà kiến (diṭṭhi) vì không hiểu rõ bản chất thật của saññā, nguồn gốc của saññā, và con đường loại trừ saññā (bị sai lệch). Do đó, đây là một cách để đạt được Sotāpanna.
