Sensory Experience, Paṭicca Samuppāda, and pañcupādānakkhandha / Trải nghiệm qua giác quan, Paṭicca Samuppāda, và Pañcupādānakkhandha

September 14, 2024

Ngày 14/09/2024

Sensory experience and how we respond to those experiences determine our future happiness/suffering. The Buddha stated that pañcupādānakkhandha, or our attachment to sensory experience (summarized via rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa), is the cause of suffering. Paṭicca Samuppāda describes how it happens.

Trải nghiệm giác quan và cách ta phản ứng với chúng quyết định hạnh phúc hay khổ đau tương lai của chúng ta. Đức Phật dạy rằng pañcupādānakkhandha — tức sự chấp thủ vào trải nghiệm giác quan (được tóm gọn qua rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa) — là nguyên nhân của khổ. Paṭicca Samuppāda mô tả cách điều đó xảy ra.

Understanding Buddha Dhamma Requires a “New Way of Thinking”

Hiểu Được Dhamma Của Đức Phật Đòi Hỏi Một “Cách Tư Duy Mới”

  1. Using “conventional human logic,” one will NEVER progress toward understanding Buddha’s teachings, i.e., the Tipiṭaka.

Nếu dùng “logic thông thường của con người,” người ta sẽ KHÔNG BAO GIỜ tiến gần đến việc hiểu giáo lý của Đức Phật, tức Tipiṭaka.

  • The reason is simple: Buddha’s teachings cannot be verified within theories or arguments based on mundane human knowledge.

Lý do rất đơn giản: giáo lý của Đức Phật không thể được kiểm chứng bằng các lý thuyết hay lập luận dựa trên tri thức thế tục của con người.

  • Understanding Buddha Dhamma requires a “paradigm change.” In particular, it requires a drastic change in how one looks at sensory experience.

Hiểu Dhamma của Đức Phật đòi hỏi một “sự thay đổi mô hình tư duy.” Cụ thể, nó đòi hỏi thay đổi triệt để cách một người nhìn nhận trải nghiệm giác quan.

  1. Soon after attaining Buddhahood, the Buddha stated the above using the verse, “adhigato kho myāyaṁ dhammo gambhīro duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo.” See “WebLink: suttacentral: Brahmāyācana Sutta (SN 6.1).”

Không lâu sau khi chứng Phật quả, Đức Phật nhắc đến điều này bằng câu kệ: “adhigato kho myāyaṁ dhammo gambhīro duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo.” Xem “WebLink: suttacentral: Brahmāyācana Sutta (SN 6.1).”

  • The translation in that link: “This Dhamma (worldview) I have discovered is deep, hard to see, hard to understand, peaceful, sublime, beyond the scope of logic, subtle, comprehensible to the astute.”

Bản dịch trong liên kết: “Dhamma (thế giới quan) mà ta khám phá là sâu sắc, khó thấy, khó hiểu, an tịnh, vi diệu, vượt ngoài phạm vi của logic, vi tế, chỉ người trí mới thấu được.”

  • Adhigato kho myāyaṁ dhammo” means “This Dhamma I uncovered.” “gambhīro” means “profound.” Thus, the rest of the translation is good, but “atakkāvacarodoes not mean “beyond the scope of logic.”

“Adhigato kho myāyaṁ dhammo” nghĩa là “Dhamma này ta đã khám phá.” “gambhīro” nghĩa là “thâm sâu.” Vì vậy, phần còn lại của bản dịch là đúng, nhưng “atakkāvacaro” không có nghĩa là “vượt ngoài phạm vi của logic.”

  • Atakkāvacaro” means “beyond the scope of erroneous logic of humans.”

Atakkāvacaro” có nghĩa là “vượt ngoài phạm vi của loại lý luận sai lầm của con người.

  • That verse “adhigato kho myāyaṁ dhammo gambhīro duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo” appears in many suttas, including DN 1, DN 14, MN 26, MN 72, MN 95.

Câu kệ “adhigato kho myāyaṁ dhammo gambhīro duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo” xuất hiện trong nhiều sutta, gồm DN 1, DN 14, MN 26, MN 72, MN 95.

  1. In the “WebLink: suttacentral: Brahmāyācana Sutta (SN 6.1),” the Buddha further explained why it is difficult for average humans (puthujjana) to see the validity of his teachings.

Trong “WebLink: suttacentral: Brahmāyācana Sutta (SN 6.1)”, Đức Phật giải thích thêm vì sao người bình thường (puthujjana) khó thấy được tính chân thật của giáo pháp.

  • Starting at marker 1.5, he explains why. That verse is better translated as “But people like clinging to sensory pleasures; they love it and enjoy it.”

Bắt đầu từ đoạn đánh dấu 1.5, Ngài giải thích lý do. Câu ấy nên được dịch là: “Con người thích bám vào các lạc thú giác quan; họ yêu thích và hưởng thụ chúng.”

  • @ marker 1.6: “It’s hard for them to see the truth, i.e., idappaccayatā paṭicca samuppāda.”

Tại marker 1.6: “Họ khó thấy được sự thật, tức idappaccayatā paṭicca samuppāda.”

  • Idappaccayatā paṭicca samuppāda explains how a mind starts in an undefiled state and is defiled within a split second. It also describes the accumulation of pañcupādānakkhandha.

Idappaccayatā paṭicca samuppāda giải thích cách một tâm khởi đầu trong trạng thái không ô nhiễm nhưng bị ô nhiễm chỉ trong chớp mắt. Nó cũng mô tả sự tích lũy của pañcupādānakkhandha.

  • Only the mind of a Buddha can uncover that process. But once explained, we can all understand it.

Chỉ có tâm của một vị Phật mới có thể khám phá tiến trình ấy. Nhưng khi đã được giảng giải, tất cả chúng ta đều có thể hiểu được.

  1. Therefore, the validity of Buddha’s teachings cannot be tested within the theories or logic known to humans. It requires a paradigm change in thinking.

Vì vậy, tính chân thật của giáo pháp của Đức Phật không thể được kiểm chứng bằng các lý thuyết hay logic quen thuộc của con người. Nó đòi hỏi một sự thay đổi mô hình tư duy.

  • All philosophies and religions are based on the assumption that happiness can be achieved somewhere within this world, whether in this life or a “heavenly realm.”

Tất cả triết lý và tôn giáo đều dựa trên giả định rằng hạnh phúc có thể đạt được ở đâu đó trong thế giới này, dù trong kiếp sống hiện tại hay ở một “cõi trời.”

  • Buddha taught that the above assumption is wrong. One can eliminate sakkāya diṭṭhi only by seeing that it is indeed true.

Đức Phật dạy rằng giả định ấy là sai. Chỉ khi thấy được điều này là thật, người ta mới đoạn trừ được sakkāya diṭṭhi.

  • Conventional thinking suggests striving for more sensory experiences that provide joy/happiness. However, the Buddha taught that this often leads to a defiled mindset, which is the cause of future suffering—understanding that “unconventional logic” requires an effort.

Lối suy nghĩ thông thường khuyên tìm kiếm thêm nhiều trải nghiệm giác quan đem lại khoái lạc/hạnh phúc. Tuy nhiên, Đức Phật dạy rằng điều ấy thường dẫn đến một tâm bị ô nhiễm, vốn là nguyên nhân của khổ trong tương lai — để hiểu được “logic phi truyền thống” này đòi hỏi nỗ lực.

We Need to Focus on Ending Suffering

Chúng Ta Cần Tập Trung Vào Việc Chấm Dứt Khổ

  1. Humans have an innate desire to be inquisitive; we like to look into everything about this world. However, it is impossible to know everything or even a fraction about many subjects.

Con người có xu hướng tò mò bẩm sinh; chúng ta muốn tìm hiểu mọi thứ về thế giới này. Tuy nhiên, không thể biết hết mọi thứ, thậm chí chỉ một phần nhỏ của nhiều lĩnh vực.

Trong “WebLink: suttacentral: Acinteyya Sutta (AN 4.77),” Đức Phật chỉ rõ bốn chủ đề mà một người nên tránh suy nghĩ.

  • The necessary translation: “There are four unthinkable things. They should not be thought about; anyone who tries to think about them will lose their mind or be frustrated.

Bản dịch thiết yếu: “Có bốn điều không thể tư duy. Không nên nghĩ về chúng; ai cố suy nghĩ về chúng sẽ rối loạn tâm trí hoặc thất vọng.

  • Those four things are (i) the capabilities of a Buddha, [buddhavisayo acinteyyo] (ii) the subject of jhāna, [jhānavisayo acinteyyo] (iii) the subject of kamma vipāka, [kammavipāko acinteyyo] and (iv) speculation about the wider world, [lokacintā acinteyyā] e.g., other planetary systems, life on other planets, etc.

Bốn điều ấy là: (i) năng lực của một vị Phật [buddhavisayo acinteyyo], (ii) chủ đề về jhāna [jhānavisayo acinteyyo], (iii) chủ đề về kamma vipāka [kammavipāko acinteyyo], và (iv) suy đoán về thế giới rộng lớn [lokacintā acinteyyā], như các hệ sao khác, sự sống trên những hành tinh khác, v.v.

  • Think about just the last category. Numerous scientists have studied such subjects for hundreds of years. They are gaining “knowledge,” for sure, but such mundane knowledge does not contribute anything to being free of suffering. We have a limited time left in this life to at least get to the Sotāpanna Even if we are reborn again with a human body, we don’t know whether we will be born into a conducive environment to re-engage with Buddha’s teachings. Over 99% of the world’s population is non-Buddhist!

Hãy nghĩ chỉ về hạng mục cuối cùng. Vô số nhà khoa học đã nghiên cứu những chủ đề đó hàng trăm năm. Họ thu được “kiến thức,” chắc chắn, nhưng loại kiến thức thế tục ấy không giúp gì trong việc giải thoát khỏi khổ. Chúng ta chỉ có thời gian rất hạn hẹp trong đời này để ít nhất đạt đến mức Sotāpanna. Dù có tái sinh làm người, ta cũng không biết liệu mình có sinh vào môi trường thuận duyên để tiếp tục thực hành giáo pháp hay không. Hơn 99% dân số thế giới không phải là Phật tử!

Sammā Samādhi Is Not Restricted to Fourth Jhāna!

Sammā Samādhi Không Bị Giới Hạn Trong Tầng Jhāna Thứ Tư!

  1. While on the subject of jhāna, let me point out a misconception about a verse in the “WebLink: suttacentral: Saccavibhaṅga Sutta (MN 141)” that states Sammā Samādhi is equivalent to the four jhānās. That is true, but Sammā Samādhi can be defined in many ways.

Khi nói về jhāna, tôi muốn chỉ ra một hiểu lầm về một câu trong “WebLink: suttacentral: Saccavibhaṅga Sutta (MN 141)”, câu ấy nói rằng Sammā Samādhi tương đương với bốn jhāna. Điều đó đúng, nhưng Sammā Samādhi có thể được định nghĩa theo nhiều cách.

  • For someone who cultivates Ariya jhāna, Sammā Samādhi is equivalent to the fourth Ariya jhāna.

Với người tu tập Ariya jhāna, Sammā Samādhi tương đương với tầng Ariya jhāna thứ tư.

Một cách diễn tả khác về Sammā Samādhi nằm trong “WebLink: suttacentral: Sammāsamādhi Sutta (AN 5.113).

Nhưng định nghĩa tổng quát nhất của Sammā Samādhi là: người đã thành tựu bảy yếu tố trước đó, từ Sammā Diṭṭhi đến Sammā Sati, sẽ có Sammā Samādhi. Xem WebLink: suttacentral: Mahācattārīsaka Sutta (MN 117).

Focusing One’s Efforts on the Ultimate Goal

Dồn Nỗ Lực Vào Mục Tiêu Tối Hậu

  1. Some Buddhists spend a lot of time thinking about the first three categories in #5 above, but trying to analyze them in detail is a waste of time.

Một số Phật tử dành rất nhiều thời gian suy nghĩ về ba đề mục đầu tiên ở mục số 5, nhưng phân tích chúng chi tiết là phí thời gian.

  • While having some ideas about them is good and even necessary, studying them in detail is not necessary.

Dù hiểu sơ lược về chúng là tốt và cần thiết, việc nghiên cứu sâu không phải điều cần làm.

  • The Buddha said, “I will teach you what suffering is, how it arises, why it arises, and how to stop it from arising.”

Đức Phật dạy: “Ta sẽ chỉ cho các ông biết khổ là gì, khổ sinh khởi như thế nào, vì sao sinh khởi, và làm sao để chấm dứt nó.”

  • We should follow that advice and entirely focus on the goal of reaching at least the first (Sotāpanna) stage of Nibbāna. That involves learning everything possible about the Four Noble Truths, Eightfold Noble Path, Paṭicca Samuppāda, and pañcupādānakkhandha, which are all interrelated.

Ta nên theo lời khuyên ấy và tập trung hoàn toàn vào mục tiêu đạt đến ít nhất tầng Sotāpanna của Nibbāna. Điều đó bao gồm việc học đầy đủ về Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, Paṭicca Samuppāda và pañcupādānakkhandha — tất cả đều liên kết với nhau.

  • All those subjects examine how our minds become corrupted by attaching to sensory inputs (nimitta/ārammaṇa). A corrupt/defiled mind is subject to suffering. That is what we will examine in this new series of posts.

Tất cả các chủ đề ấy phân tích cách tâm ta bị ô nhiễm bởi sự chấp thủ vào các đối tượng giác quan (nimitta/ārammaṇa). Một tâm bị ô nhiễm chắc chắn phải chịu khổ. Đó là điều chúng ta sẽ khảo sát trong loạt bài mới này.

Importance of Studying Sensory Experience

Tầm Quan Trọng Của Việc Quán Sát Trải Nghiệm Giác Quan

  1. In the statement in orange colour in #7 above, the Buddha stated that it is important first to understand what suffering is and how it arises. Once that is understood, the other two aspects become clear automatically.

Trong câu được đánh dấu màu cam ở mục số 7, Đức Phật dạy rằng điều quan trọng trước tiên là hiểu khổ là gì và khổ sinh khởi như thế nào. Khi điều đó được hiểu, hai khía cạnh còn lại tự động trở nên rõ ràng.

  • In other words, the four aspects in that statement are equivalent to dukkha samudaya (the root causes of suffering) and dukkha nirodha (how suffering can be stopped from arising.)

Nói cách khác, bốn khía cạnh ấy tương đương với dukkha samudaya (các gốc rễ của khổ) và dukkha nirodha (làm thế nào để chấm dứt sự sinh khởi của khổ).

  • We accumulate kammic energy by attaching to sensory inputs (nimitta), to (some of) which we attach (taṇhā), turning them into ārammaṇa.

Chúng ta tích lũy năng lượng kamma bằng cách chấp thủ các dữ liệu đầu vào giác quan (nimitta), từ đó sinh taṇhā, khiến chúng trở thành ārammaṇa.

  • Why do we attach to some sensory inputs? We do that because we have diṭṭhi vipallāsa, saññā vipallāsa, and citta vipallāsa.

Vì sao chúng ta chấp vào một số các dữ liệu đầu vào giác quan? Bởi vì ta có diṭṭhi vipallāsa, saññā vipallāsa và citta vipallāsa.

  • Vipallāsa means “distortion” or “not the true state of affairs.” Those vipallāsa arise as long as we have the corresponding anusaya/saṁyojana; we will discuss that later.

Vipallāsa nghĩa là “méo mó” hay “không đúng sự thật.” Các vipallāsa này sinh khởi chừng nào vẫn còn các anusaya/saṁyojana tương ứng; chúng ta sẽ bàn sau.

  • Removing the three types of vipallāsa happens in the order above. However, understanding saññā vipallāsa is critical. It will help remove diṭṭhi and citta vipallāsa. Even after understanding saññā vipallāsa (and simultaneously removing diṭṭhi vipallāsa), it takes time to REMOVE saññā vipallāsa and citta vipallāsa. That is where the Satipaṭṭhāna/Ānāpānasati Bhāvanā comes into play.

Việc loại bỏ ba dạng vipallāsa diễn ra theo trình tự ấy. Tuy nhiên, hiểu đúng saññā vipallāsa là then chốt. Nó giúp loại bỏ diṭṭhi và citta vipallāsa. Dù hiểu được saññā vipallāsa (và đồng thời loại bỏ diṭṭhi vipallāsa), vẫn cần thời gian để LOẠI BỎ saññā vipallāsa và citta vipallāsa. Đó là lúc Satipaṭṭhāna/Ānāpānasati Bhāvanā trở nên cần thiết.

  • I will discuss that in detail in the upcoming posts, but let us do an overview.

Tôi sẽ bàn chi tiết trong các bài tới, nhưng trước hết là một cái nhìn tổng quan.

Misleading/Distorted Views and Saññā Lead to Pañcupādānakkhandha

Tà Kiến/Saññā Sai lệch Dẫn Đến Pañcupādānakkhandha

  1. While it is “natural” for humans to perceive that happiness is based on sensory pleasures, the Buddha taught that indulgence in sensory pleasures (same as pañcupādānakkhandha) leads to suffering: “saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā” OR “in brief, the origin of suffering is the craving for the five aggregates of rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa (pancupādānakkhandha). See #2 of “Essence of Buddhism – In the First Sutta.” [“saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā” means “through over thrown (khittena) by saŋ, the five grasping aggregates are dukkhā”. khitta : [pp. of khipati] thrown; overthrown; casted away; upset.]

Dù “tự nhiên” con người nghĩ rằng hạnh phúc dựa vào các khoái lạc giác quan, Đức Phật dạy rằng sự đắm nhiễm vào các khoái lạc ấy (tức pañcupādānakkhandha) dẫn đến khổ: “saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā,” tức “tóm lược, nguồn gốc của khổ là sự khát ái đối với năm uẩn rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa (pancupādānakkhandha).” Xem mục số 2 trong “Essence of Buddhism – In the First Sutta.” [“saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā” nghĩa là “bị saŋ cuốn lôi (khittena), năm uẩn chấp thủ trở thành dukkhā.” khitta: [quá khứ phân từ của khipati] bị ném, bị khuấy động, bị quăng bỏ, bị xáo trộn.]

  • The above aspect of Buddha’s teachings is widely known, even if not widely understood. However, another and even deeper aspect has not been discussed in recent years: The “sense of happiness” associated with certain foods, smells, touches, sights, and sounds (distorted saññā) is “built into our bodies” via Paṭicca Samuppāda. That is why it is extremely hard to lose the craving for sensory pleasures.

Khía cạnh trên trong giáo pháp Đức Phật được biết đến rộng rãi, dù không được hiểu rộng rãi. Tuy nhiên, một khía cạnh khác sâu hơn và ít được bàn đến trong những năm gần đây: “cảm giác hạnh phúc” gắn với một số loại thức ăn, mùi hương, xúc chạm, hình ảnh và âm thanh (saññā bị biến dạng) được “cài đặt vào thân thể chúng ta” qua Paṭicca Samuppāda. Vì vậy, việc mất đi sự thèm khát các khoái cảm giác quan là vô cùng khó.

Tuy nhiên, hiểu được cách mà “cảm giác hạnh phúc giả tạo” (saññā sai lệch) sinh khởi chính là hiểu “gốc rễ của saŋ, tức rāga, dosa và moha” và trở thành “sandiṭṭhiko.” Điều này được nêu rõ trong nhiều sutta (ví dụ “WebLink: suttacentral: Upavāṇasandiṭṭhika Sutta (SN 35.70)” và “WebLink: suttacentral: Paṭhamasandiṭṭhika Sutta (AN 6.47)”. Dĩ nhiên, các bản dịch trong các liên kết ấy không giải thích những ý nghĩa then chốt.

  • I will analyze the above aspects in this series of posts on pañcupādānakkhandha, commonly translated as “Five Grasping

Tôi sẽ phân tích các khía cạnh trên trong loạt bài này về pañcupādānakkhandha, thường được dịch là “Năm Uẩn Chấp Thủ.”

Paṭicca Samuppāda Describes the Accumulation of Pañcupādānakkhandha

Paṭicca Samuppāda Mô Tả Sự Tích Lũy Của Pañcupādānakkhandha

  1. The Paṭicca Samuppāda process describes three critical aspects: (i) the sensory experience (vedanā/saññā), (ii) how one responds to that experience with abhisaṅkhāra, and (iii) how that response (i.e., kamma generation via “kamma viññāṇa”) affects one’s future (during life and also for rebirths).

Tiến trình Paṭicca Samuppāda mô tả ba khía cạnh then chốt: (i) trải nghiệm giác quan (vedanā/saññā), (ii) cách một người phản ứng với trải nghiệm ấy bằng abhisaṅkhāra, và (iii) phản ứng đó (tức sự tạo kamma qua “kamma viññāṇa”) ảnh hưởng đến tương lai của người ấy như thế nào (trong đời sống này và cho các lần tái sinh).

  • The critical role of saññā has been hidden in recent years. Most of the vedanā we experience are “mind-made” and arise due to saññā vipallāsa or distorted saññā.

Vai trò trọng yếu của saññā đã bị che khuất trong những năm gần đây. Phần lớn vedanā mà ta trải nghiệm là “do tâm tạo,” sinh khởi do saññā vipallāsa hay saññā bị biến dạng.

  • Of course, any sensory experience is initiated by an external rūpa (sights, sounds, tastes, smells, touches, and memories) coming into contact with an internal rūpa: eyes (cakkhu), ears (sota), nose (ghāna), tongue (jivhā), body (kāya), and mind (mano).

Tất nhiên, bất kỳ trải nghiệm giác quan nào cũng bắt đầu từ một rūpa bên ngoài (hình ảnh, âm thanh, vị, mùi, xúc chạm và ký ức) tiếp xúc với một rūpa bên trong: mắt (cakkhu), tai (sota), mũi (ghāna), lưỡi (jivhā), thân (kāya) và tâm (mano).

  • Therefore, the “building up” of future suffering (pañcupādānakkhandha) happens via Paṭicca Samuppāda and all that happens in the mind.

Vì vậy, sự “hình thành” của khổ tương lai (pañcupādānakkhandha) diễn ra qua Paṭicca Samuppāda và toàn bộ đều xảy ra trong tâm.

Saṅkhāra and Abhisaṅkhāra

Saṅkhāra và Abhisaṅkhāra

  1. Let us look briefly at the terms in the Paṭicca Samuppāda. Avijjā is ignorance about the “true nature of the world.” Saṅkhārās are our thoughts. If they arise with rāga, dosa, or moha, they become abhisaṅkhāra and generate a subtle energy called “kammic” Thus, saṅkhāra with rāga, dosa, or moha is assigned the unique prefix “abhi,” i.e., they are abhisaṅkhāra.

Hãy xem ngắn gọn các thuật ngữ trong Paṭicca Samuppāda. Avijjā là vô minh về “bản chất thật của thế giới.” Saṅkhāra là các tư tưởng của ta. Nếu chúng sinh khởi với rāga, dosa hoặc moha, chúng trở thành abhisaṅkhāra và tạo ra một loại năng lượng vi tế gọi là “năng lượng kamma.” Do đó, saṅkhāra có rāga, dosa hoặc moha được gắn tiền tố đặc biệt “abhi,” tức chúng là abhisaṅkhāra.

  • The overall sensory experience is viññāṇa. If it is a pure experience (i.e., just seeing), it can be called “vipāka viññāṇa.” However, if rāga, dosa, or moha arise in response to that vipāka viññāṇa, then the mind adds something extra (an expectation), and it becomes a “kamma viññāṇa.”

Toàn bộ trải nghiệm giác quan là viññāṇa. Nếu đó là trải nghiệm trong sáng (tức chỉ là thấy), nó được gọi là “vipāka viññāṇa.” Nhưng nếu rāga, dosa hay moha sinh khởi khi phản ứng với vipāka viññāṇa ấy, thì tâm thêm vào một yếu tố bổ sung (một kỳ vọng), và nó trở thành “kamma viññāṇa.”

  • As you can deduce, a vipāka viññāṇa only has saṅkhāra, and kamma viññāṇa arises due to abhisaṅkhāra. If only “pure saṅkhāra” arise (without rāga, dosa, or moha) then only a vipāka viññāṇa would arise, i.e., one would just experience the event. For example, one may see a tree outside the window or hear rain falling on the roof. Those are vipāka viññāṇa with saṅkhāra. On the other hand, if lust arises in the mind when seeing a person, that involves not only seeing but also a “defiled mind” due to rāga

Như bạn có thể suy ra, một vipāka viññāṇa chỉ có saṅkhāra, còn kamma viññāṇa sinh khởi nhờ abhisaṅkhāra. Nếu chỉ có “saṅkhāra trong sáng” sinh khởi (không có rāga, dosa hay moha) thì chỉ có vipāka viññāṇa, tức là ta chỉ đơn thuần trải nghiệm sự kiện. Ví dụ, bạn thấy một cái cây ngoài cửa sổ hoặc nghe tiếng mưa rơi trên mái nhà — đó là vipāka viññāṇa kèm saṅkhāra. Ngược lại, nếu dục khởi lên khi nhìn một người, thì điều đó không chỉ là “thấy,” mà còn là “tâm bị ô nhiễm” bởi rāga sinh khởi.

Distorted Saññā Is Not Defiled, but Can Lead to a Defiled Mind

Saññā Bị Biến Dạng Không Phải Ô Nhiễm, Nhưng Có Thể Dẫn Đến Tâm Ô Nhiễm

  1. Thoughts with “pure saṅkhāra” have only vedanā and saññā as cetasika (mental factors.) In contrast, thoughts with abhisaṅkhāra have asobhana (meaning defiled) cetasika such as greed (lobha), anger (dosa/paṭigha), jealousy (issa), etc.

Các tư tưởng với “pure saṅkhāra” chỉ có vedanā và saññā như các cetasika (tâm sở). Ngược lại, tư tưởng với abhisaṅkhāra có các asobhana cetasika (tâm sở bất thiện) như tham (lobha), sân (dosa/paṭigha), ganh tị (issa), v.v.

  • Vedanā and saññā are two mental factors that arise with all thoughts. They are “universal cetasika.” While saññā helps identify the sensory object, vedanā is the “good, bad, or neutral feeling” arising from that identification.

Vedanā và saññā là hai tâm sở sinh khởi cùng tất cả các tư tưởng. Chúng là “cetasika phổ thông.” Saññā giúp nhận định đối tượng giác quan, còn vedanā là “cảm thọ dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính” sinh khởi từ sự nhận định ấy.

  • However, due to the ignorance about the “real nature of the sensory inputs/world,” that identification is distorted (“distorted saññā”), and that leads to a “mind-made vedanā.” In the example I often cite, eating honey gives a “distorted saññā” or “wrong identification” of a sweetness, which is effectively a “sukha vedanāor a “good feeling.” Only physical bodily contact can lead to “real sukha/dukha vedanā.” The sukha vedanā” due to the “sweetness of honey is a saññā.” That is why a tiger or a cow will not taste honey as sweet; the “sweetness of honey” is not in honey, but is a “made-up saññā” by our bodies. A tiger generates a “sukha saññā” for the flesh of other animals and not for honey; similarly, a cow tastes grass to be desirable, not honey.

Tuy nhiên, vì vô minh về “bản chất thật của các dữ liệu đầu vào giác quan/thế giới,” sự nhận định ấy bị bóp méo (“saññā sai lệch”), và điều đó dẫn đến một “vedanā do tâm tạo.” Trong ví dụ tôi thường nêu, ăn mật ong tạo ra “saññā sai lệch” hay “nhận định sai” về vị ngọt, và vị ngọt ấy trở thành một “sukha vedanā” hay “cảm thọ dễ chịu.” Chỉ có các tiếp xúc thân thể mới tạo ra “sukha/dukha vedanā thật.” Cái “sukha vedanā” do “vị ngọt của mật ong” thực chất là một saññā. Vì vậy, hổ hay bò không cảm thấy mật ong ngọt; “vị ngọt” không nằm trong mật ong, mà là một “saññā được tạo ra” bởi cơ thể chúng ta. Hổ sinh “sukha saññā” với thịt động vật, không phải với mật ong; tương tự, bò cảm thấy cỏ dễ chịu, không phải mật ong.

  • Even though the saññā of a puthujjana is always “distorted,” there is no rāga, dosa, or moha directly associated with a “distorted saññā.”

Dù saññā của một puthujjana luôn “bị sai lệch,” nhưng không có rāga, dosa hay moha trực tiếp gắn với “saññā bị sai lệch.”

  • However, defiled thoughts automatically arise in a puthujjana due to that “distorted saññāuntil they comprehend its origin. We will discuss those ideas further in this series of posts.

Tuy nhiên, các tư tưởng bất thiện tự động sinh khởi nơi một puthujjana do “saññā bị biến dạng” ấy, cho đến khi họ hiểu rõ nguồn gốc của nó. Chúng ta sẽ tiếp tục bàn về điều này trong loạt bài viết này.

A Paṭicca Samuppāda Sequence Starts With a Sensory Input (Ārammaṇa)

Một Chuỗi Paṭicca Samuppāda Bắt Đầu Từ Một Đầu Vào Giác Quan (Ārammaṇa)

  1. Now, one could ask: “How do thoughts (with abhisaṅkhāra) arise due to avijjā? Does that happen without a cause?”

Bây giờ, có thể hỏi: “Các tư tưởng (với abhisaṅkhāra) sinh khởi do avijjā bằng cách nào? Có phải chúng sinh ra vô cớ không?”

  • Conscious, defiled thoughts (with abhisaṅkhāra) arise only in response to sensory input (nimitta/ārammaṇa.)

Không. Các tư tưởng hữu ý, bị ô nhiễm (có abhisaṅkhāra) chỉ sinh khởi để đáp ứng các đầu vào giác quan (nimitta/ārammaṇa).

  • The Idappaccayatā Paṭicca Samuppāda explains this process in minute detail.

Idappaccayatā Paṭicca Samuppāda giải thích tiến trình này một cách vi tế.

  • We have discussed it in the “Paṭicca Samuppāda During a Lifetime” section, but we will discuss some of its aspects in detail in this series.

Chúng ta đã bàn điều này trong phần Paṭicca Samuppāda During a Lifetime,” nhưng trong loạt bài này chúng ta sẽ đi sâu hơn vào một số khía cạnh.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *