Correct Meaning of Vacī Saṅkhāra / Ý nghĩa Đúng của Vacī Saṅkhāra

November 8, 2016; revised September 25, 2018; October 16, 2020; December 18, 2022 (#1, #4); May 8, 2024

Ngày 08/11/2016; sửa ngày 25/09/2018; 16/10/2020; 18/12/2022 (#1, #4); 08/05/2024

Vacī Saṅkhārā are involved in speech and conscious thoughts (talking to oneself), per Tipiṭaka.

Vacī Saṅkhārā liên quan đến lời nói và các ý nghĩ có ý thức (tự nói trong tâm), theo Tipiṭaka.

July 12, 2021: It is critically important to understand what is meant by “saṅkhāra.” I just started a new “Basic Framework of Buddha Dhamma” section to discuss the relationship among the Noble Truths, Tilakkhaṇa, and Paṭicca Samuppāda. I include this post in that section.

Ngày 12/07/2021: Việc hiểu đúng “saṅkhāra” là cực kỳ quan trọng. Tôi vừa bắt đầu phần “Basic Framework of Buddha Dhamma” để bàn về mối liên hệ giữa Tứ Thánh Đế, Tilakkhaṇa, và Paṭicca Samuppāda. Bài này được đưa vào phần đó.

  • Pronunciation of Pāli words like vacī, vitakka, and vicāra can be found in “Pāli Glossary – (L-Z).”

Cách phát âm các từ Pāli như vacī, vitakka và vicāra có trong “Pāli Glossary – (L-Z).”

Conscious Thoughts Are Also Vacī Saṅkhāra

Các ý nghĩ Có ý thức cũng là Vacī Saṅkhāra

  1. Many people believe that only speech involves vacī saṅkhāra. However, in the following, we will see that vacī saṅkhāra are our conscious, deliberate thoughts that can lead to speech.

Nhiều người nghĩ rằng chỉ lời nói mới liên quan đến vacī saṅkhāra. Tuy nhiên, như sẽ thấy dưới đây, vacī saṅkhāra chính là các ý nghĩ có ý thức, chủ động, có thể dẫn đến lời nói.

Trong “WebLink: suttacentral: Cūḷavedalla Sutta (MN 44)”, vacī saṅkhāra được định nghĩa là “vitakka vicārā vacī saṅkhāra”, nghĩa là “vacī saṅkhāra chính là vitakka và vicāra”.

Trước tiên các ý nghĩ sinh khởi, rồi lời nói có thể bật ra nếu “cảm thọ” trở nên mạnh; xem “WebLink: suttacentral: Cūḷavedalla Sutta (MN 44).”

Vì vậy, cần hiểu vitakka và vicāra là gì. Giải thích ngắn gọn về vitakka có trong “WebLink: suttacentral: Vitakka Sutta (SN 56.7)”.

Vitakka Closely Resembles Saṅkappa

Vitakka Gần Giống Với Saṅkappa

  1. Vitakka and saṅkappa are closely related words. They are thoughts that arise based on a given thought object (ārammaṇa). Once risen, vicāra keeps the mind engaged with that thought object, i.e., generating more thoughts about it. Abhidhamma gives the following analogy. A bee flying to a particular flower is like vitakka (going to a new ārammaṇa) and then buzzing around that flower while drinking nectar is like vicāra (engaging with that ārammaṇa.).

Vitakka và saṅkappa là những từ có quan hệ rất gần. Chúng là các ý nghĩ sinh khởi dựa trên một đối tượng tâm (ārammaṇa). Khi đã sinh khởi, vicāra giữ tâm tiếp tục xoay quanh đối tượng ấy, tức là tiếp tục tạo thêm các ý nghĩ về nó. Abhidhamma đưa ra ẩn dụ sau. Con ong bay đến một bông hoa giống như vitakka (chuyển tâm đến một ārammaṇa mới), và ong vo ve quanh bông hoa để hút mật giống như vicāra (tâm tiếp tục bám vào ārammaṇa ấy).

  • For example, if we start thinking about an enemy, akusala vitakka (saṅkappa) arises. Then, we may spend minutes or hours thinking evil thoughts — that is vicāra.

Ví dụ, nếu ta bắt đầu nghĩ về kẻ thù, akusala vitakka (saṅkappa) sinh khởi. Rồi ta có thể dành nhiều phút hay nhiều giờ nghĩ các ý xấu — đó là vicāra.

  • We do most of that in our minds, talking to ourselves. But we may also express some of those thoughts as actual words.

Ta thường làm điều đó trong tâm — tự nói với chính mình. Nhưng đôi khi một phần sẽ thoát ra bằng lời thật.

Vitakka/Vicāra, Savitakka/Savicāra, and Avitakka/Avicāra

Vitakka/Vicāra, Savitakka/Savicāra và Avitakka/Avicāra

  1. Normally, vitakka and vicāra are associated with akusala When used with the prefix “sa” (i.e., savitakka and savicāra), good and wholesome thoughts are indicated — the opposites of vitakka and vicāra.

Thông thường, vitakka và vicāra liên quan đến ý nghĩ akusala. Khi thêm tiền tố “sa” (savitakka và savicāra), chúng chỉ các ý nghĩ thiện — ngược lại với vitakka và vicāra.

  • Furthermore, avitakka and avicāra indicate the absence of vitakka and vicāra; however, savitakka and savicāra (“good thoughts”) can still be present. In jhāna contexts, avitakka/avicāra refer to a state where only savitakka and savicāra

Ngoài ra, avitakka và avicāra chỉ sự vắng mặt của vitakka và vicāra, nhưng savitakka và savicāra (“ý thiện”) vẫn có thể hiện diện. Trong bối cảnh các tầng jhāna, avitakka/avicāra chỉ trạng thái nơi chỉ còn savitakka và savicāra.

  • A higher version of savitakka and savicāra is “Sammā Saṅkappa.” While savitakka/savicāra represent “moral thoughts” by any person, Sammā Saṅkappa only arises in a Noble Person. In the “WebLink: suttacentral: Mahācattārīsaka Sutta (MN 117)”, sammā saṅkappa is defined as “thinking, re-thinking, Noble thoughts (vacī saṅkhāra) devoid devoid of āsava.” See #11 of “Vacī Saṅkhāra – Saṅkappa (Conscious Thoughts) and Vācā (Speech).”

Phiên bản cao hơn của savitakka và savicāra là “Sammā Saṅkappa”. Trong khi savitakka/savicāra là “ý nghĩ thiện” của bất kỳ người nào, Sammā Saṅkappa chỉ sinh ở một bậc Thánh. Trong “WebLink: suttacentral: Mahācattārīsaka Sutta (MN 117)”, sammā saṅkappa được định nghĩa là “tư duy, tư duy lại, các ý nghĩ của bậc Thánh (vacī saṅkhāra) không có āsava”. Xem #11 của “Vacī Saṅkhāra – Saṅkappa (Conscious Thoughts) and Vācā (Speech).”

  1. Following is the basic idea of the “WebLink: suttacentral:Vitakka Sutta (SN 56.7)”:

Ý chính của “WebLink: suttacentral:Vitakka Sutta (SN 56.7)” như sau:

  • Bhikkhus, do not engage in evil unwholesome thoughts, which are sensual thoughts, thoughts of ill will, thoughts of harming others (kāma vitakka, byāpāda vitakka, vihiṁsā vitakka).

“Này các bhikkhu, đừng tham gia vào các ý nghĩ bất thiện như ý nghĩ dục, ý nghĩ sân, ý nghĩ làm hại (kāma vitakka, byāpāda vitakka, vihiṁsā vitakka).

  • For what reason? These thoughts, bhikkhus, are without real substance (Nete, bhikkhave, vitakkā atthasaṁhitā), irrelevant to the fundamentals of the holy life, and do not lead to escape from this world and to Nibbāna. When your mind starts such thoughts, bhikkhus, you should think: ‘This will lead to suffering.’

Vì lý do gì? Này các bhikkhu, những ý nghĩ ấy không có thực chất (Nete, bhikkhave, vitakkā atthasaṁhitā), không liên quan đến nền tảng của đời phạm hạnh, và không dẫn đến thoát ly thế giới này hay đến Nibbāna. Khi tâm các ông khởi các ý nghĩ ấy, hãy quán rằng: “Điều này sẽ dẫn đến khổ.”

  • Instead, you should reflect, “These are the causes of suffering”; and reflect, “The way to end suffering is by cultivating thoughts of renunciation and compassion.” Such thoughts lead to dispassion, cessation, peace, direct knowledge, enlightenment, and Nibbāna.

Thay vào đó, cần quán: “Đây là nhân của khổ”; và “Con đường đoạn khổ là nuôi dưỡng các ý nghĩ ly tham và từ bi.” Những ý nghĩ như vậy dẫn đến ly tham, diệt tận, an tịnh, tri kiến trực tiếp, giác ngộ và Nibbāna.

Savitakka/Savicāra Are Present in “Good Thoughts”

Savitakka/Savicāra Hiện diện trong “Các Ý Nghĩ Thiện”

  1. When describing jhāna, vitakka and vicāra specifically refer to kāma rāga, vyāpāda, or other akusala. There, avitakka and avicāra mean the absence of them.

Khi mô tả jhāna, vitakka và vicāra chỉ rõ các ý nghĩ thuộc kāma rāga, vyāpāda hay các akusala khác. Khi ấy, avitakka và avicāra nghĩa là sự vắng mặt của chúng.

  • When one generates thoughts that specifically do not involve kāma rāga or other akusala — but the opposites (nekkhamma/kusala) — those are called savitakka and savicāra.

Khi một người khởi các ý nghĩ không chứa kāma rāga hay akusala — mà ngược lại, là nekkhamma/kusala — thì đó gọi là savitakka và savicāra.

  • That is how one gets into jhāna: eliminating (or suppressing) vitakka/vicāra and cultivating savitakka/savicāra.

Đó là cách một người vào jhāna: đoạn trừ (hoặc đè nén) vitakka/vicāra và nuôi dưỡng savitakka/savicāra.

  • This is seen in any sutta that describes jhāna. For example, in “WebLink: suttacentral: Tapussa Sutta (AN 9.41)”: “So kho ahaṁ, ānanda, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.” When in jhāna, vitakka/vicāra with kāma rāga/akusala are absent, and only savitakka/savicāra

Điều này xuất hiện trong mọi sutta mô tả jhāna. Ví dụ “WebLink: suttacentral: Tapussa Sutta (AN 9.41)”: “So kho ahaṁ, ānanda, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.” Khi ở trong jhāna, vitakka/vicāra mang kāma rāga/akusala vắng mặt, và chỉ còn savitakka/savicāra.

  • In the above verse, “vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi” means kāma rāga/akusala are absent in the mind while in jhāna.

Trong câu trên, “vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi” nghĩa là kāma rāga/akusala không có mặt trong tâm khi ở jhāna.

Kammaṭṭhāna (Meditation Recital) Can Be Silent

Kammaṭṭhāna (Tụng Niệm Thiền) Có Thể Được Thực Hiện Thầm

  1. When doing a kammaṭṭhāna (meditation recital), one may say the phrase aloud or recite it silently. Both involve vacī saṅkhāra.

Khi thực hành kammaṭṭhāna (tụng niệm thiền), người ta có thể đọc thành tiếng hoặc đọc thầm. Cả hai đều liên quan đến vacī saṅkhāra.

  • A kammaṭṭhāna can be done either way, and both involve vacī saṅkhāra.

Kammaṭṭhāna có thể thực hành bằng cả hai cách, và đều có vacī saṅkhāra.

  • The more one understands the concepts in the meditation phrase, the stronger the javana citta becomes, making the session more effective.

Càng hiểu rõ ý nghĩa của câu thiền niệm, javana citta càng mạnh, và buổi thiền càng hiệu quả.

  • When beginning, it is easier to say the phrases aloud to keep the mind on the subject. Later, one can do it silently.

Khi mới bắt đầu, dễ giữ tâm trên đề mục hơn nếu đọc thành tiếng. Khi thuần thục hơn, có thể đọc thầm.

  • This is an example of a puññābhi saṅkhāra (meritorious deed) involving vacī saṅkhāra.

Đây là ví dụ của puññābhi saṅkhāra (thiện nghiệp) có vacī saṅkhāra.

Need to Be Careful With Silent Vacī Saṅkhāra

Cần Thận Trọng Với Vacī Saṅkhāra Thầm Lặng

  1. Now consider an apuññābhi saṅkhāra (immoral deed) involving vacī saṅkhāra, where someone generates evil thoughts about an enemy. One may generate a huge amount of such vacī saṅkhāra internally without speaking a word. But when feelings intensify, words can burst out because the javana power of javana citta becomes uncontrollable.

Hãy xét một apuññābhi saṅkhāra (hành động bất thiện) có vacī saṅkhāra, khi ai đó khởi các ý nghĩ xấu về kẻ thù. Người ấy có thể tạo rất nhiều vacī saṅkhāra thầm lặng mà không nói lời nào. Nhưng khi cảm xúc mạnh lên, lời có thể bật ra vì năng lực javana của javana citta trở nên không kiểm soát.

  • Even though the javana in “silent vacī saṅkhāra” is weaker than in actual speech, one may produce many more silent vacī saṅkhāra, thus generating more kamma vipāka.

Dù javana trong “vacī saṅkhāra thầm” yếu hơn khi nói ra, nhưng vì số lượng có thể rất lớn nên vẫn tạo nhiều kamma vipāka hơn.

  • The “power” of javana citta increases with the degree of hate toward that person. That is why one loses control more easily when dealing with someone one hates.

Sức mạnh của javana citta tăng theo mức độ sân hận đối với người đó. Vì vậy, người ta dễ mất kiểm soát khi đối diện người mình ghét.

Sammā Saṅkappa Involve Vacī Saṅkhāra

Sammā Saṅkappa Liên quan đến Vacī Saṅkhāra

  1. In the Noble Eightfold Path, Sammā Saṅkappa deals with only one component of vacī saṅkhāra, those conscious thoughts without speech. Getting rid of all vacī saṅkhāra involves both Sammā Saṅkappa and Sammā Vācā.

Trong Bát Thánh Đạo, Sammā Saṅkappa chỉ liên quan đến một thành phần của vacī saṅkhāra, tức những tư tưởng có ý thức nhưng không biểu hiện bằng lời. Loại bỏ toàn bộ vacī saṅkhāra đòi hỏi cả Sammā Saṅkappa và Sammā Vācā.

  • “Saṅkappa” in Pāli or “sankalpanā” in Sinhala means conscious thoughts that involve “saŋ” or things that contribute to the sansāric journey (rebirth process). Here “sankalpanā” (සංකල්පනා) comes from “saŋ” + “kalpanā,” where “kalpanā” means conscious thoughts. When one keeps thinking about something, those thoughts are “sankalpanā.”

Từ “Saṅkappa” trong Pāli hay “sankalpanā” trong Sinhala nghĩa là những tư tưởng có ý thức liên quan đến “saŋ”, tức các yếu tố góp phần vào hành trình sansāra (tiến trình tái sinh). “Sankalpanā” (සංකල්පනා) có gốc từ “saŋ” + “kalpanā”, trong đó “kalpanā” nghĩa là tư tưởng có ý thức. Khi một người cứ tiếp tục suy nghĩ về một điều gì đó, những tư tưởng ấy được gọi là “sankalpanā”.

  • Of course, “saŋ” is a crucial Pāli term in Buddha Dhamma; see the subsection posts, “Saŋ – A Critical Pāli Root.” Sammā means to get rid of, as discussed in the same section.

Dĩ nhiên, “saŋ” là một thuật ngữ Pāli then chốt trong Dhamma của Đức Phật; xem các bài trong tiểu mục “Saŋ – A Critical Pāli Root.” Sammā có nghĩa là từ bỏ, như đã giải thích trong phần đó.

  • Therefore, Sammā Saṅkappa means removing bad conscious and deliberate thoughts and cultivating moral thoughts.

Vì vậy, Sammā Saṅkappa nghĩa là từ bỏ những tư tưởng xấu, có ý thức và có chủ ý, và nuôi dưỡng tư tưởng thiện.

  • Sammā Vācā involves stopping immoral speech and generating moral speech.

Sammā Vācā liên quan đến việc dừng lời nói bất thiện và tạo ra lời nói thiện.

  1. The main point to be extracted from this discussion is that one needs to be very careful about generating hateful (or greedy) conscious thoughts for a long time. When one becomes aware of such thoughts, one CAN stop them. This is the basis of both Ānāpāna and Satipaṭṭhāna Bhāvanā.

Điều quan trọng cần rút ra từ phần thảo luận này là ta phải rất cẩn thận khi nuôi dưỡng các tư tưởng có ý thức mang sân hận (hoặc tham ái) trong thời gian dài. Khi nhận biết được các tư tưởng ấy, ta CÓ THỂ dừng chúng lại. Đây là nền tảng của cả Ānāpāna và Satipaṭṭhāna Bhāvanā.

  • We always think conscious thoughts (vacī saṅkhāra of the first kind) before acting on them, either via speech (vacī saṅkhāra of the second kind) or via bodily actions (kāya saṅkhāra)!

Chúng ta luôn khởi lên tư tưởng có ý thức (loại vacī saṅkhāra thứ nhất) trước khi hành động theo chúng, bằng lời nói (loại vacī saṅkhāra thứ hai) hoặc bằng hành động thân (kāya saṅkhāra)!

  • This is discussed in detail in “How Are Gati and Kilesa Incorporated into Thoughts?,” “Suffering in This Life and Paṭicca Samuppāda,” “Satipaṭṭhāna Sutta – Relevance to Suffering in This Life,” as well as other posts in the “Living Dhamma” section.

Điều này được trình bày chi tiết trong các bài “How Are Gati and Kilesa Incorporated into Thoughts?”, “Suffering in This Life and Paṭicca Samuppāda”, “Satipaṭṭhāna Sutta – Relevance to Suffering in This Life”, cùng nhiều bài khác trong mục “Living Dhamma”.

  • Experiencing pleasing sense objects (called kāma guṇa) is not kāma. Generating vacī saṅkhāra (or kāma sankappanā) about them is kāma; see, “Kāma Rāga Dominates Rūpa Rāga and Arūpa Rāga.”

Trải nghiệm các đối tượng giác quan dễ chịu (gọi là kāma guṇa) không phải là kāma. Khởi lên vacī saṅkhāra (hay kāma sankappanā) về chúng mới là kāma; xem bài “Kāma Rāga Dominates Rūpa Rāga and Arūpa Rāga”.

  • Further details at “Vitakka, Vicāra, Savitakka, Savicāra, and Avitakka, Avicāra.”

Xem thêm chi tiết trong bài “Vitakka, Vicāra, Savitakka, Savicāra, and Avitakka, Avicāra”.

Đối với những ai hiểu tiếng Sinhala, bài thuyết giảng sau có liên quan đến nội dung bài viết: “WebLink: waharaka.com: කාය සංඛාර, වචී සංඛාර, මනෝ සංඛාර තුළින් කර්ම පථයක් හැදෙන අයුරු” [cụm “කාය සංඛාර, වචී සංඛාර, මනෝ සංඛාර තුළින් කර්ම පථයක් හැදෙන අයුරු” có nghĩa là “kāya saṁkhāra, vacī saṅkhāra, mano saṅkhāra tuḷin kamma pathayak hædena ayuru” trong tiếng Sinhala, hay tiếng Anh là “How a kammic path is formed through Kāya Saṅkhāra, Vacī Saṅkhāra, and Mano Saṅkhāra (Cách một con đường kamma được hình thành qua Kāya Saṅkhāra, Vacī Saṅkhāra và Mano Saṅkhāra).”]

Nibbāna Is Not “Stopping Thoughts”

Nibbāna Không Phải Là “Dừng Mọi Tư Tưởng”

  1. I know of several “Buddhist” groups that try to “stop” all thoughts, believing that is what happens at the Arahant stage of Nibbāna. They think the Buddha spent 45 years of his life trying to teach people how to stop thoughts, which is an even worse interpretation of Nibbāna than the Mahāyānists.

Tôi biết có một số nhóm “Phật tử” cố gắng “dừng” mọi tư tưởng, tin rằng đó là điều xảy ra ở tầng Arahant của Nibbāna. Họ cho rằng Đức Phật đã dành 45 năm cuộc đời để dạy mọi người cách dừng suy nghĩ, và đó còn là một sự diễn giải sai lạc về Nibbāna hơn cả quan điểm của Đại thừa.

  • When we are in deep sleep or unconscious, we do not “think thoughts.” Does that mean we can attain Arahanthood during such times?

Khi chúng ta ngủ sâu hoặc bất tỉnh, chúng ta không “khởi tư tưởng”. Vậy điều đó có nghĩa ta có thể chứng quả Arahant trong những lúc ấy không?

  • The Buddha advised us to stop immoral thoughts and cultivate moral thoughts; that is how one purifies the mind. This is what one does in the correct ānāpānasati meditation, too; see “ What is Ānāpāna?” and “Elephant in the Room 3 – Ānāpānasati.”

Đức Phật khuyên chúng ta dừng các tư tưởng bất thiện và nuôi dưỡng tư tưởng thiện; đó là cách thanh lọc tâm. Đây cũng là điều diễn ra trong hành thiền ānāpānasati đúng cách; xem “7. What is Ānāpāna?” và “Elephant in the Room 3 – Ānāpānasati.”

  • The reality is that Arahant’s thoughts are crystal clear (and pure) because they are devoid of defilements. Their memory is, in fact, actually enhanced.

Thực tế là tư tưởng của một vị Arahant rất sáng suốt (và thanh tịnh) vì hoàn toàn không còn ô nhiễm. Ký ức của các ngài thậm chí còn sắc bén hơn.

  • Stopping ALL thoughts can lead to loss of perception (asañña) and memory; those who cultivate asañña can be reborn in the asañña

Dừng TẤT CẢ tư tưởng có thể dẫn đến mất tri giác (asañña) và mất ký ức; những người tu tập asañña có thể tái sinh vào cõi asañña.

Mano Saṅkhāra Arise Automatically Per Our Gati

Mano Saṅkhāra Khởi Lên Tự Động Theo Gati Của Chúng Ta

  1. Mano saṅkhāra arises automatically according to our gati. We don’t have any control over mano saṅkhāra other than by changing our gati over time.

Mano saṅkhāra khởi lên một cách tự động tùy theo gati của chúng ta. Chúng ta không thể điều khiển mano saṅkhāra, ngoại trừ bằng cách thay đổi gati của mình theo thời gian.

  • This is a crucial point to grasp, and is discussed in detail in the posts, “How Are Gati and Kilesa Incorporated into Thoughts?” and “Suffering in This Life and Paṭicca Samuppāda” as well as other posts in the “Living Dhamma” section.

Đây là một điểm then chốt cần nắm vững, và được trình bày chi tiết trong các bài “How Are Gati and Kilesa Incorporated into Thoughts?” và “Suffering in This Life and Paṭicca Samuppāda”, cũng như nhiều bài khác trong mục “Living Dhamma”.

  • The critical difference between mano and vacī saṅkhāra must be understood. Vacī saṅkhāra involves conscious thoughts.

Cần hiểu rõ sự khác biệt quan trọng giữa mano và vacī saṅkhāra. Vacī saṅkhāra liên quan đến những tư tưởng có ý thức.

Kāya Saṅkhāra Control Bodily Actions

Kāya Saṅkhāra Kiểm Soát Các Hành Động Của Thân

  1. Kāya saṅkhāra involves kamma done with bodily actions. Thus, one can wrongly conclude that speech is also kāya saṅkhāra, since body parts (tongue, lips, and associated facial muscles) are moved during speech.

Kāya saṅkhāra liên quan đến kamma được tạo qua hành động thân. Vì vậy, có thể có người kết luận sai rằng lời nói cũng là kāya saṅkhāra, bởi các bộ phận cơ thể (lưỡi, môi và các cơ mặt liên quan) đều cử động khi nói.

  • To understand this, one must to know how our body parts move according to our thoughts. If you are unfamiliar with Abhidhamma, you can skip the rest of the post.

Để hiểu được điều này, ta cần biết các bộ phận cơ thể vận hành theo tư tưởng của mình như thế nào. Nếu bạn chưa quen với Abhidhamma, bạn có thể bỏ qua phần còn lại của bài viết.

  1. Our physical body parts are mechanical. They have no “life” unless a gandhabba controls that body. Gandhabba is an essential concept in Buddha Dhamma. It has been neglected simply because it is not discussed in the infamous Visuddhimagga and other literature by Buddhaghosa, who single-handedly distorted Buddha Dhamma; see “Incorrect Theravāda Interpretations – Historical Timeline.”

Các bộ phận của thân vật lý của chúng ta chỉ là cơ cấu vận động. Chúng không có “sự sống” trừ khi có một gandhabba điều khiển thân ấy. Gandhabba là một khái niệm thiết yếu trong Dhamma của Đức Phật. Khái niệm này bị bỏ quên chỉ vì nó không được bàn đến trong tác phẩm tai tiếng Visuddhimagga và những trước tác khác của Buddhaghosa, người đã một mình làm sai lệch Dhamma của Đức Phật; xem “Incorrect Theravāda Interpretations – Historical Timeline.”

  • The concept of gandhabba is essential in Buddha Dhamma; see, “Gandhabba State – Evidence from Tipiṭaka” and “Antarābhava and Gandhabba.”

Khái niệm gandhabba là cốt lõi trong Dhamma của Đức Phật; xem “Gandhabba State – Evidence from Tipiṭaka” và “Antarābhava and Gandhabba”.

  • Without the concept of gandhabba, it is not possible to explain the difference between bhava and jāti: “Bhava and Jāti – States of Existence and Births Therein,” and not believing it is a micchā diṭṭhi: “Micchā Diṭṭhi, Gandhabba, and Sotāpanna Stage.”

Nếu không có khái niệm gandhabba, ta không thể giải thích sự khác biệt giữa bhava và jāti: “Bhava and Jāti – States of Existence and Births Therein”, và việc không tin điều này là một micchā diṭṭhi; xem “Micchā Diṭṭhi, Gandhabba, and Sotāpanna Stage.”

Gandhabba (Mental Body) Controls the Physical Body

Gandhabba (Thân Tâm) Điều Khiển Thân Vật Lý

  1. Let us briefly discuss how the mind of the gandhabba controls a physical body. The physical body is made of 32 parts, just like a robot, which is made of various parts. What gives life to this physical body is the gandhabba, a very fine body smaller than an atom in modern science.

Hãy cùng xét ngắn gọn cách tâm của gandhabba điều khiển một thân vật lý. Thân vật lý gồm 32 phần, giống như một cỗ máy được cấu tạo từ nhiều bộ phận. Điều mang lại “sự sống” cho thân vật lý chính là gandhabba — một thân vi tế còn nhỏ hơn cả một nguyên tử theo khoa học hiện đại.

  • Even though the gandhabba is negligibly tiny in “weight,” it has a fine body that spreads over the physical body like a fine mesh; it is more like an energy field. The gandhabba is associated with an invisible nervous system that overlaps the physical nervous system, which consists of billions of nerve cells.

Dù gandhabba hầu như không có “trọng lượng”, nó có một thân vi tế bao trùm thân vật lý như một mạng lưới mỏng — giống như một trường năng lượng. Gandhabba gắn liền với một hệ thần kinh vô hình chồng lên hệ thần kinh vật lý, vốn gồm hàng tỉ tế bào thần kinh.

  • Gandhabba also has the seat of the mind (hadaya vatthu) and five pasāda rūpa (which receive signals from the five physical senses via the brain) located close to the physical heart; see, “Brain – Interface between Mind and Body” for details.

Gandhabba cũng có chỗ cư trú của tâm (hadaya vatthu) và năm pasāda rūpa (nhận tín hiệu từ năm giác quan qua bộ não), nằm gần tim vật lý; xem “Brain – Interface between Mind and Body” để biết thêm chi tiết.

The Role of the Brain

Vai Trò Của Não Bộ

  1. How can such a negligibly small gandhabba move a heavy physical body? Gandhabba is more like a signal source that gives appropriate commands. The brain (a very sophisticated computer) translates those commands into actual signals given to the physical nervous system.

Làm sao một gandhabba nhỏ bé đến vậy có thể vận động cả thân vật lý nặng nề? Gandhabba hoạt động như một nguồn phát tín hiệu đưa ra các mệnh lệnh thích hợp. Bộ não (một bộ máy tính cực kỳ tinh vi) chuyển các mệnh lệnh ấy thành tín hiệu thực tế gửi đến hệ thần kinh vật lý.

  • The energy to move those body parts comes from the food we eat.

Năng lượng để vận động thân đến từ thực phẩm chúng ta tiêu thụ.

  • The posts “Gandhabba in a Human Body – an Analogy,” “Ghost in the Machine – Synonym for the Manomaya Kāya?” and related posts discuss that in more detail. But let us discuss the concept using an example without getting into those details.

Các bài “Gandhabba in a Human Body – an Analogy”, “Ghost in the Machine – Synonym for the Manomaya Kāya?” và những bài liên quan bàn chi tiết hơn về điều này. Nhưng ở đây, chúng ta sẽ giải thích bằng một ví dụ mà không đi sâu vào các chi tiết ấy.

  1. When someone decides to move his arm, the mind resides in the gandhabba makes that decision (and generates corresponding kāya saṅkhāra). Then that signal goes to the brain, which converts that “mental signal” into chemical signals. They, in turn, transmit through the nervous system to the muscles in the arm and move it.

Khi một người quyết định cử động cánh tay, tâm cư trú trong gandhabba tạo ra quyết định ấy (và sinh ra kāya saṅkhāra tương ứng). Rồi tín hiệu đó được truyền đến bộ não, nơi nó được chuyển thành các tín hiệu hóa học. Các tín hiệu này tiếp tục truyền qua hệ thần kinh đến các cơ ở cánh tay và làm cánh tay chuyển động.

  • The energy produced by the digestion of our food goes into energizing the brain and moving body parts.

Năng lượng được tạo ra từ quá trình tiêu hóa thức ăn của chúng ta được dùng để cung cấp năng lượng cho não và vận động các bộ phận cơ thể.

  • So, the gandhabba uses a negligible fraction of the energy needed to move body parts. That is similar to the tiny amount of energy a computer spends controlling a fighter jet. Jet fuel provides energy to move the heavy jet. In the same way, the food we eat provides the energy to move our physical bodies.

Do đó, gandhabba chỉ sử dụng một phần năng lượng vô cùng nhỏ trong tổng năng lượng cần thiết để vận động cơ thể. Điều này giống như lượng điện năng rất nhỏ mà một máy tính dùng để điều khiển một chiếc máy bay chiến đấu. Nhiên liệu phản lực cung cấp năng lượng để vận hành chiếc máy bay nặng nề. Tương tự như vậy, thức ăn chúng ta ăn vào cung cấp năng lượng cho việc vận động thân thể vật lý.

  • We generate that small energy in our thoughts — via javana cittā — as we discuss below.

Chúng ta tạo ra phần năng lượng nhỏ này trong các tư tưởng — qua javana cittā — như sẽ được trình bày bên dưới.

Kāya and Vacī Viññatti Rūpa

Kāya và Vacī Viññatti Rūpa

  1. The commands from the gandhabba are signals or tiny amounts of energy, and these come in two varieties: kāya viññatti rūpa and vacī viññatti rūpa. These are two of the 28 types of rūpa in Abhidhamma.

Các mệnh lệnh từ gandhabba là những tín hiệu hay lượng năng lượng cực nhỏ, và chúng thuộc hai loại: kāya viññatti rūpa và vacī viññatti rūpa. Đây là hai trong số 28 loại rūpa trong Abhidhamma.

  • The kāya viññatti rūpa control bodily movements, and the vacī viññatti rūpa control speech.

Kāya viññatti rūpa điều khiển các chuyển động của thân, còn vacī viññatti rūpa điều khiển lời nói.

  • Javana cittā generate these “rūpa” or “energy signals.” Again, more information can be found in the Abhidhamma

Javana cittā tạo ra các “rūpa” hay “tín hiệu năng lượng” này. Thông tin chi tiết hơn có thể xem trong phần Abhidhamma.

  1. Speech — done with vacī viññatti rūpa — is different from moving body parts. Speech involves complex muscle movements not yet understood by science. Moving body parts — done with kāya viññatti rūpa — is simpler.

Lời nói — được thực hiện bằng vacī viññatti rūpa — khác với việc vận động thân. Lời nói liên quan đến những chuyển động phức tạp của cơ bắp mà khoa học vẫn chưa hiểu hết. Việc di chuyển các bộ phận cơ thể — được thực hiện bằng kāya viññatti rūpa — thì đơn giản hơn.

  • What is behind vacī viññatti rūpa are vitakka and vicāra cetasika that are in javana citta responsible for speech. However, when we “talk to ourselves,” the javana citta responsible are weaker than those responsible for speech. But those two cetasika are in both types of javana citta.

Đằng sau vacī viññatti rūpa là các cetasika vitakka và vicāra có mặt trong javana citta chịu trách nhiệm cho lời nói. Tuy nhiên, khi chúng ta “tự nói trong tâm”, các javana citta này yếu hơn so với những javana citta tạo ra lời nói thật sự. Nhưng cả hai cetasika này đều có trong cả hai loại javana citta.

  • Javana cittā that are responsible for physical action (like raising an arm or walking) involve kāya viññatti rūpa, and the javana citta that generate those are even stronger.

Những javana cittā chịu trách nhiệm cho hành động thân (như giơ tay hay đi bộ) liên quan đến kāya viññatti rūpa, và các javana citta tạo ra chúng còn mạnh hơn nữa.

  • Therefore, both vacī saṅkhāra (whether talking to oneself or speaking) and kāya saṅkhāra (bodily actions) involve javana citta. All kamma that can be controlled directly by us are done via javana cittā; see “Amazingly Fast Time Evolution of a Thought (Citta)” and “Javana of a Citta – The Root of Mental Power.”

Do đó, cả vacī saṅkhāra (dù là tự nói thầm hay nói ra lời) và kāya saṅkhāra (hành động thân) đều liên quan đến javana citta. Tất cả các loại kamma mà chúng ta có thể trực tiếp kiểm soát đều được thực hiện qua javana cittā; xem “Amazingly Fast Time Evolution of a Thought (Citta)” và “Javana of a Citta – The Root of Mental Power.”

Votthapana Citta – Decision to Take Action

Votthapana Citta – Quyết định Hành động

  1. The initial decision to generate vacī or kāya saṅkhāra happens at the votthapana citta, which comes just before the seven javana citta in a citta vīthi, which has 17 citta in total; see, “Citta Vīthi – Processing of Sense Inputs,” and other related posts in the Abhidhamma

Quyết định ban đầu để khởi vacī hay kāya saṅkhāra diễn ra tại votthapana citta, nằm ngay trước bảy javana citta trong một citta vīthi gồm tổng cộng 17 citta; xem “Citta Vīthi – Processing of Sense Inputs” và các bài liên quan trong phần Abhidhamma.

  • That “initial reaction” to a sensory input comes AUTOMATICALLY in the votthapana citta, and the nature of that reaction depends on one’s gati. Thus, the AUTOMATIC mano saṅkhāra are generated in that votthapana citta.

Phản ứng ban đầu đối với một cảm giác được tạo ra MỘT CÁCH TỰ ĐỘNG tại votthapana citta, và tính chất của phản ứng ấy phụ thuộc vào gati của một người. Do đó, các mano saṅkhāra TỰ ĐỘNG được sinh khởi trong votthapana citta.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *