April 8, 2016; revised July 1, 2021; July 21, 2021 (#3); August 20, 2022; January 1, 2025
Ngày 8/4/2016; Sửa ngày 1/7/2021; 21/7/2021 (#3); 20/8/2022; 1/1/2025
- In the previous post, we discussed two versions of the 37 Factors of Enlightenment (Bodhipākkhiya Dhamma) and the Eightfold Paths. See “Why are Tilakkhaṇa not Included in 37 Factors of Enlightenment?” Here, we continue that discussion.
Trong bài trước, chúng ta đã bàn về hai phiên bản của 37 Yếu Tố Giác Ngộ (Bodhipākkhiya Dhamma) và Bát Chánh Đạo. Xem “Why are Tilakkhaṇa not Included in 37 Factors of Enlightenment?” Ở đây, ta tiếp tục chủ đề đó.
- Throughout the website, I have tried to make the case that there are three broad categories that people can be divided into:
Trên toàn bộ trang, tôi đã cố gắng chỉ ra rằng con người có thể được chia thành ba nhóm chính:
- Some have one or more of the ten types of micchā diṭṭhi; see “Three Kinds of Diṭṭhi, Eightfold Paths, and Samādhi.”
Một số người mang một hay nhiều trong mười loại micchā diṭṭhi; xem “Three Kinds of Diṭṭhi, Eightfold Paths, and Samādhi.”
- Some others who have been exposed to some form of Buddha Dhamma have removed micchā diṭṭhi and thereby have the mundane (lokiya) version of sammā diṭṭhi.
Một số khác đã được tiếp xúc với Dhamma của Đức Phật ở mức nào đó, nhờ đó loại bỏ được micchā diṭṭhi và đạt đến sammā diṭṭhi ở mức thế tục (lokiya).
- Then some have transcendental (lokuttara) sammā diṭṭhi, i.e., they comprehend the true nature of the 31 realms (anicca, dukkha, and anatta), realizing that there is hidden suffering in what we perceive as enjoyment.
Còn một số người đạt được sammā diṭṭhi siêu thế (lokuttara), nghĩa là họ thấu triệt bản chất thật của 31 cõi (anicca, dukkha, anatta), nhận ra rằng trong những gì ta gọi là lạc thú thực ra ẩn chứa khổ đau.
- When one is exposed to Buddha Dhamma, one can understand the need for a wider worldview with 31 realms, where living beings are born according to their actions (kamma). This leads to removing micchā diṭṭhi; see “Buddha Dhamma – In a Chart” and “What is Unique in Buddha Dhamma?”.
Khi được tiếp xúc với Dhamma của Đức Phật, người ta có thể hiểu được tầm quan trọng của một thế giới quan rộng hơn gồm 31 cõi, trong đó chúng sinh được sinh ra tùy theo hành động (kamma) của mình. Điều đó giúp loại bỏ micchā diṭṭhi; xem “Buddha Dhamma – In a Chart” và “What is Unique in Buddha Dhamma?”.
- When one gets rid of micchā diṭṭhi, one has the mundane sammā diṭṭhi: one knows that to avoid future births in the apāyā (four lowest realms), one needs to avoid immoral deeds (akusala kamma) and cultivate moral deeds.
Khi loại bỏ micchā diṭṭhi, người ta có được sammā diṭṭhi thế tục: biết rằng để tránh tái sinh vào apāya (bốn cõi khổ), cần tránh các hành vi bất thiện (akusala kamma) và tu tập các hành vi thiện.
- With mundane sammā diṭṭhi, one also strives to accumulate kusala by doing puñña kiriya or good deeds; this leads to four benefits of āyu (long life), vaṇṇa (healthiness), sukha (mundane happiness), and bala (wealth/strength) in future lives. Note that this “bala” is different from the “Pañca Bala”; see “Pañca Indriya and Pañca Bala – Five Faculties and Five Powers.”
Với sammā diṭṭhi thế tục, người ta còn nỗ lực tích lũy kusala qua các hành động công đức (puñña kiriya), mang lại bốn lợi ích trong kiếp sau: āyu (tuổi thọ), vaṇṇa (sức khỏe/sắc tướng), sukha (hạnh phúc thế tục), và bala (tài lực/sức mạnh). Lưu ý rằng “bala” này khác với “Pañca Bala”; xem “Pañca Indriya and Pañca Bala – Five Faculties and Five Powers.”
- The “mundane bala” appears in the Dhammapada verse 109:
“Bala theo nghĩa thế tục” được nêu trong Dhammapada, câu 109:
“Abhivādanasīlissa
niccaṁ vuḍḍhāpacāyino
cattāro dhammā vaḍḍhanti
āyu vaṇṇo sukhaṁ balaṁ.”
Translation: “For one who always respects and honors those older and more virtuous, four benefits of longevity, beauty, happiness, and wealth/strength will increase.”
Dịch: “Đối với người luôn kính trọng và tôn vinh bậc cao niên và hiền đức, bốn pháp này sẽ tăng trưởng: tuổi thọ, dung sắc, hạnh phúc và tài lực/sức mạnh.”
- That enables one to grasp Tilakkhaṇa in future lives if one fails to do so in this life. Normally, those born with tihetuka paṭisandhi will have those qualities in this life. See “Paṭisandhi Citta – How the Next Life is Determined According to Gati.”
Điều đó giúp người ấy có thể lĩnh hội được Tilakkhaṇa trong các kiếp sau nếu chưa làm được ở kiếp này. Thông thường, những ai sinh với tihetuka paṭisandhi sẽ có những phẩm chất đó ngay trong đời này. Xem “Paṭisandhi Citta – How the Next Life is Determined According to Gati.”
- Now let us talk specifically about the mundane 37 Factors of Enlightenment, tied to the mundane sammā diṭṭhi. There is no specific order because they are all interrelated. But for convenience, we could use the following guide:
Bây giờ, ta sẽ bàn riêng về 37 Yếu Tố Giác Ngộ thế tục, gắn liền với sammā diṭṭhi thế tục. Không có thứ tự cố định vì chúng liên hệ lẫn nhau, nhưng để tiện theo dõi, ta có thể dùng sơ đồ hướng dẫn sau.
There are four obvious things to do when one knows what is right (moral or kusala) and what is not (immoral or akusala). These are called cattāro sammappadhāna, conventionally translated as Four Supreme Efforts. One exerts to:
Có bốn điều rõ ràng cần thực hiện khi một người biết điều gì là đúng (thiện hay kusala) và điều gì là sai (bất thiện, akusala). Bốn điều này được gọi là cattāro sammappadhāna, hay “Tứ Chánh Cần” (Bốn Nỗ Lực Tối Thượng). Người tu tập cần nỗ lực để:
- 00 prevent immoral qualities that have not yet arisen from arising
00 ngăn chặn các trạng thái tâm bất thiện chưa sinh không cho sinh khởi
- 01 abandon immoral qualities that have arisen
01 đoạn trừ các trạng thái tâm bất thiện đã sinh
- 10 initiate moral qualities that have not yet arisen to arise
10 khởi sinh các trạng thái tâm thiện chưa sinh
- 11 maintain and cultivate moral qualities that have arisen
11 duy trì và tu tập các trạng thái tâm thiện đã sinh
[compare 37 Factors of Enlightenment item 4][so sánh với yếu tố thứ 4 trong 37 Yếu Tố Giác Ngộ]
================================================
- Not to let an unwholesome thought arise which has not yet arisen.
Không để một ý nghĩ bất thiện chưa sinh khởi trở nên sinh khởi.
- Not to let an unwholesome thought continue which has already arisen.
Không để một ý nghĩ bất thiện đã sinh tiếp tục tồn tại.
- To make a wholesome thought arise which has not yet arisen.
Khiến cho một ý nghĩ thiện chưa sinh được sinh khởi.
- To make a wholesome thought continue which has already arisen.
Khiến cho một ý nghĩ thiện đã sinh tiếp tục được duy trì và tăng trưởng.
They can briefly be expressed as “avoiding,” “overcoming,” “developing,” and “maintaining,” and are called the four supreme efforts.
Tóm lược lại, bốn nỗ lực này được diễn tả bằng bốn từ: “tránh,” “vượt qua,” “phát triển,” và “duy trì” — gọi chung là “bốn nỗ lực tối thượng.”
================================================
By the way, these are intimately related to viriya in some other categories in the 37 factors: Cattāro Iddhipada, Pañca Indriya, Pañca Bala, Satta Bojjhaṅga, and the Noble Eightfold Path.
Nhân đây, bốn nỗ lực này có liên hệ mật thiết với yếu tố viriya trong các nhóm khác của 37 Yếu Tố Giác Ngộ: Cattāro Iddhipada, Pañca Indriya, Pañca Bala, Satta Bojjhaṅga, và Bát Thánh Đạo.
- One could make much progress (mundane or lokuttara) by focusing on the Cattāro Sammappadhāna. The word sammappadhāna comes from “saŋ” + “ma” + “padhāna.” We have previously discussed that “sammā” or “saŋ + ma” means getting rid of defilements; see “What is ‘Saŋ’? Meaning of Saṁsāra.” In Pāli or Sinhala, “padhāna” or “pradhāna” means dominant or leading. Cattāro means four.
Một người có thể đạt được nhiều tiến bộ (dù ở mức thế tục hay lokuttara) nếu chuyên tâm thực hành Cattāro Sammappadhāna. Từ sammappadhāna được tạo thành từ “saŋ” + “ma” + “padhāna.” Trước đây đã giải thích rằng “sammā” (hay “saŋ + ma”) có nghĩa là loại bỏ ô nhiễm; xem “What is ‘Saŋ’? Meaning of Saṁsāra.” Trong tiếng Pāli hoặc Sinhala, “padhāna” hay “pradhāna” nghĩa là “chủ đạo” hoặc “dẫn đầu.” Cattāro nghĩa là “bốn.”
- Therefore, Cattāro Sammappadhāna means four key methods for eliminating defilements, i.e., cleansing the mind.
Do đó, Cattāro Sammappadhāna có nghĩa là “bốn phương pháp trọng yếu để diệt trừ phiền não/nhiễm ô,” tức là thanh lọc tâm.
- If we can get into the habit of following the four guidelines listed in #4, then we will be cleansing our minds with time.
Nếu ta có thể rèn luyện thành thói quen thực hành bốn nguyên tắc được liệt kê ở mục #4, thì theo thời gian, tâm sẽ dần được thanh tịnh.
- Cattāro Satipaṭṭhāna (Four Foundations of Mindfulness) helps one with the four tasks listed in #4 by being vigilant. These are discussed in detail in several posts in the “Mahā Satipaṭṭhāna Sutta.”
Cattāro Satipaṭṭhāna (Tứ Niệm Xứ – Bốn Nền tảng của Chánh niệm) giúp hành giả thực hiện bốn nhiệm vụ nêu trong mục #4 bằng sự tỉnh giác. Chủ đề này được phân tích chi tiết trong nhiều phần của “Mahā Satipaṭṭhāna Sutta.”
- One keeps vigilant about committing immoral deeds with the body (Kāyānupassanā) and becomes good at not reacting automatically to feelings (vedanānupassanā) or thoughts (cittānupassanā), and when in doubt about the suitability of a given action, compare it with what is in the Dhamma (dhammānupassanā).
Người hành trì luôn tỉnh thức để tránh các hành vi bất thiện về thân (Kāyānupassanā), học cách không phản ứng tự động với cảm thọ (vedanānupassanā) hay với các ý nghĩ (cittānupassanā), và khi nghi ngờ về tính đúng đắn của một hành động sắp làm, so sánh nó với Dhamma (dhammānupassanā).
- We have not discussed dhammānupassanā in the Mahā Satipaṭṭhāna Sutta yet, and it can go to great depths. But we can get a simple idea from what “dhamma” means: Dhamma is what one bears. Suppose one engages in activities that lead to great suffering to another (say, rape or murder). In that case, one has accumulated a “bad Dhamma” that will yield corresponding results (via Paṭicca Samuppāda) in future lives in the four lowest realms. Similarly, if one acts with kindness, one accumulates “good Dhamma” to be born in human or higher realms.
Chúng ta chưa bàn sâu về dhammānupassanā trong Mahā Satipaṭṭhāna Sutta, nhưng khái niệm này có thể được hiểu sâu rộng. Tuy nhiên, một cách đơn giản, Dhamma có nghĩa là điều mà tâm mang theo. Ví dụ, nếu một người thực hiện những hành động gây đau khổ nặng nề cho người khác (như hiếp dâm hoặc giết hại), thì người đó đã tích lũy Dhamma ác, và chúng sẽ trổ quả tương ứng (theo Paṭicca Samuppāda) trong những đời sau, dẫn đến tái sinh vào bốn cõi khổ. Ngược lại, nếu người ấy hành xử với lòng từ bi, họ tích lũy Dhamma thiện, và nhờ đó sẽ được sinh vào cõi người hoặc các cõi cao hơn.
- Thus one should think about the consequences of bad actions one is about to do and stop such an action. On the other hand, one can be joyful about a good act that one is about to do or has done, and acquire many merits that will lead to āyu, vaṇṇa, sukha, bala, and paññā as discussed in #3 above.
Vì vậy, người tu cần suy xét đến hậu quả của hành động bất thiện sắp làm và dừng lại trước khi hành động. Ngược lại, có thể hoan hỷ về việc thiện mình sắp làm hoặc đã làm, qua đó tích lũy nhiều công đức dẫn đến āyu, vaṇṇa, sukha, bala, và paññā như đã đề cập ở phần #3 ở trên.
- Then there are Cattāro Iddhipāda or the Four Bases of Mental Power; see, “The Four Bases of Mental Power (Cattāro Iddhipāda).” When someone has a firm goal, one develops chanda (liking for it), citta (thinking about it always), viriya (making efforts on it), and vīmaṁsā (finding out all relevant information).
Kế tiếp là Cattāro Iddhipāda — Bốn Căn Bản Của Năng Lực Tâm Linh; xem “The Four Bases of Mental Power (Cattāro Iddhipāda).” Khi một người có mục tiêu vững chắc, người ấy sẽ phát triển chanda (ý thích đối với mục tiêu đó), citta (tâm luôn hướng về nó), viriya (nỗ lực thực hành), và vīmaṁsā (tìm hiểu, quán sát để hiểu trọn vẹn vấn đề).
- That completes the “three sets of fours” in the 37 Factors of Enlightenment. Next there are “two sets of fives.”
Như vậy là hoàn tất “ba nhóm gồm bốn yếu tố” trong 37 Yếu Tố Giác Ngộ. Tiếp theo là “hai nhóm gồm năm yếu tố.”
- The Pañca Indriya (Five Mental Faculties) are: saddhā (faith based on knowledge), viriya (effort), sati (mindfulness), samādhi (calming of the mind), and paññā (wisdom).
Pañca Indriya (Năm Căn Tâm) gồm: saddhā (niềm tin dựa trên hiểu biết), viriya (tinh tấn), sati (chánh niệm), samādhi (định tâm), và paññā (trí tuệ).
- These five factors help one move forward on the Dhamma path. It is like a vehicle with two sets of wheels with a driver: Sati is in front and can be compared to the driver; saddhā and paññā are the two front wheels, and viriya and samādhi are like the back wheels.
Năm yếu tố này giúp hành giả tiến bước trên con đường Dhamma. Chúng có thể ví như một cỗ xe có người lái và hai cặp bánh: Sati là người điều khiển, saddhā và paññā là hai bánh trước, còn viriya và samādhi là hai bánh sau.
- All five need to be cultivated together; in particular, those sets need to be balanced: one cannot move forward with saddhā without paññā, or just by sheer effort (viriya) without feeling the benefits in samādhi.
Cả năm yếu tố cần được tu tập đồng thời và cân bằng: không thể tiến bước chỉ với saddhā mà thiếu paññā, hay chỉ dựa vào viriya mà không cảm nhận được sự an định của samādhi.
- When the Pañca Indriya is cultivated, they grow and become Pañca Bala or the Five Powers.
Khi Pañca Indriya được tu tập thành thục, chúng phát triển thành Pañca Bala hay Năm Năng lực.
- These “two sets of five” are discussed in detail in “Pañca Indriya and Pañca Bala – Five Faculties and Five Powers.”
Hai nhóm “năm yếu tố” này được phân tích chi tiết trong “Pañca Indriya and Pañca Bala – Five Faculties and Five Powers.”
- Next is Satta Bojjhaṅga or the Seven Factors of Enlightenment.
Tiếp theo là Satta Bojjhaṅga hay Bảy Yếu Tố Giác Ngộ.
- These seven factors are dhammavicaya (investigation of Dhamma, closely related to vīmaṁsā and paññā), viriya (effort), pīti (joy), passaddhi (tranquility), samādhi (concentration), and upekkhā (equanimity).
Bảy yếu tố này gồm: dhammavicaya (quán sát Dhamma, liên hệ chặt với vīmaṁsā và paññā), viriya (tinh tấn), pīti (hỷ lạc), passaddhi (tịch tĩnh), samādhi (nhất tâm), và upekkhā (xả).
- Here again, sati should be in front, and the other six are better cultivated in two sets; see “ Magga Phala and Ariya Jhānā via Cultivation of Satta Bojjhaṅga.” In that post, the Satta Bojjhaṅga are those for the lokuttara Path, but as mentioned before, the procedures are the same with deeper meanings.
Ở đây, sati vẫn là yếu tố dẫn đầu, sáu yếu tố còn lại nên được phát triển thành hai nhóm; xem “11. Magga Phala and Ariya Jhānā via Cultivation of Satta Bojjhaṅga.” Trong bài đó, Satta Bojjhaṅga được trình bày theo Con đường lokuttara, nhưng như đã nói, các bước thực hành là như nhau, chỉ khác ở tầng ý nghĩa sâu hơn.
- Those help complete the Ariya Aṭṭhaṅgika Magga or the Noble Eightfold Path. Thus, there are 37 factors altogether.
Các yếu tố trên cùng góp phần hoàn thiện Ariya Aṭṭhaṅgika Magga hay Bát Thánh Đạo. Tổng cộng có 37 yếu tố giác ngộ.
- It has been discussed in many posts throughout the site. To get a list of relevant posts, enter “Noble Eightfold Path” in the search box at the top right.
Chủ đề này đã được bàn trong nhiều bài viết khác nhau trên trang. Để xem danh sách liên quan, có thể tìm “Noble Eightfold Path (Bác Thánh Đạo)” trong ô tìm kiếm phía góc phải trên.
- A table in the post “37 Factors of Enlightenment” shows how many factors in different categories overlap.
Bảng trong bài “37 Factors of Enlightenment” cho thấy mức độ trùng lặp giữa các nhóm yếu tố khác nhau.
- Therefore, there is no need to try to cultivate each factor. It is much better to concentrate on one category: Cattāro Sammappadhāna or Cattāro Satipaṭṭhāna are common ones. When further along the Path, one could cultivate Satta Bojjhaṅga. Of course, the Noble Eightfold Path encompasses all.
Do đó, không cần phải cố gắng tu riêng từng yếu tố. Tốt hơn hết là tập trung vào một nhóm, chẳng hạn Cattāro Sammappadhāna hoặc Cattāro Satipaṭṭhāna. Khi tiến xa hơn trên Đạo lộ, có thể thực hành Satta Bojjhaṅga. Dĩ nhiên, Bát Thánh Đạo bao gồm toàn bộ các yếu tố trên.
- Cultivating the mundane sammā diṭṭhi together with contemplating “Anicca, Dukkha, Anatta” gradually moves one to transcendental (lokuttara) sammā diṭṭhi.
Khi tu tập sammā diṭṭhi ở mức thế tục kết hợp với quán chiếu “Anicca, Dukkha, Anatta”, hành giả dần dần tiến đến sammā diṭṭhi ở mức siêu thế (lokuttara).
- Then one will gradually switch over to the lokuttara 37 Factors of Enlightenment. Like a train smoothly switching tracks, one will move over to the lokuttara track at some point; it happens in one citta vīthi, and one may not even realize it for a while. There is no need to worry about which one to be followed. As the meanings of anicca, dukkha, and anatta sink in, one will start seeing the deeper aspects of the 37 Factors of Enlightenment.
Rồi người ấy sẽ dần chuyển sang 37 Yếu Tố Giác Ngộ ở mức lokuttara. Giống như đoàn tàu chuyển đường ray một cách êm ái, sự chuyển đổi này diễn ra ở một citta vīthi và có thể người ấy không nhận ra ngay. Không cần bận tâm mình đang theo phiên bản nào. Khi ý nghĩa của anicca, dukkha, và anatta thấm sâu, người hành trì sẽ tự nhiên thấy được tầng ý nghĩa sâu xa của 37 Yếu Tố Giác Ngộ.
- One will truly comprehend the Four Noble Truths starting from that point. One truly starts grasping the First Noble Truth (Dukkha Sacca) only when comprehending anicca, dukkha, and
Từ đó trở đi, hành giả mới thật sự hiểu Tứ Thánh Đế. Chỉ khi thấu triệt anicca, dukkha, và anatta, người ấy mới thật sự nắm được Sự thật Cao quý Thứ nhất (Dukkha Sacca).
- Again, this is why the first three Noble Truths are also not listed under the 37 Factors of Enlightenment. In the previous post, we discussed why the Tilakkhaṇa are not included; see “Why are Tilakkhaṇa not Included in 37 Factors of Enlightenment?”.
Một lần nữa, đây chính là lý do vì sao ba Sự thật Cao quý Thứ nhất cũng không được liệt kê trong 37 Yếu Tố Giác Ngộ. Trong bài trước, chúng ta đã bàn về lý do vì sao Tilakkhaṇa không được đưa vào; xem “Why are Tilakkhaṇa not Included in 37 Factors of Enlightenment?”.
- Comprehension of anicca, dukkha, and anatta, at least to some extent, at the Sotāpanna stage, helps one grasp the first Noble Truth, i.e., that this world is filled with suffering and that it can be overcome.
Hiểu được anicca, dukkha, và anatta — ít nhất ở mức độ căn bản — khi đạt đến tầng Sotāpanna sẽ giúp người hành giả nắm bắt được Sự thật Cao quý Thứ Nhất, tức là thấy rằng thế gian này đầy khổ đau, và khổ đó có thể đoạn trừ.
- The lokuttara version of the 37 Factors of Enlightenment — which describes ways to get to Nibbāna or Enlightenment — requires the comprehension of the Tilakkhaṇa and the first three Noble Truths.
Phiên bản lokuttara của 37 Yếu Tố Giác Ngộ — vốn mô tả con đường dẫn đến Nibbāna hay Giác ngộ — đòi hỏi phải thấu hiểu Tilakkhaṇa cùng ba Sự thật Cao quý Thứ Nhất.
- Even before grasping anicca, dukkha, and anatta, one can see the dangers of a defiled mind and be motivated to follow the mundane Path with mundane sammā diṭṭhi.
Ngay cả trước khi thấu hiểu anicca, dukkha, và anatta, người ta vẫn có thể nhận ra hiểm họa của tâm ô nhiễm và phát khởi động lực đi theo Con đường thế tục với sammā diṭṭhi thế tục.
- Therefore, it is better not to think much about which version of the 37 Factors of Enlightenment one follows.
Vì thế, tốt hơn hết là đừng quá bận tâm mình đang thực hành phiên bản nào của 37 Yếu Tố Giác Ngộ.
- The key is to purify one’s mind gradually: “rāgakkhayo Nibbānan, dosakkhayo Nibbānan, mohakkhayo Nibbānan,” i.e., Nibbāna or “cooling down” is achieved by eliminating greed, hate, and ignorance in steps. Moral behavior helps with the first two, and reading and listening to Dhamma helps with the third.
Điều cốt lõi là thanh lọc tâm từng bước: “rāgakkhayo Nibbānan, dosakkhayo Nibbānan, mohakkhayo Nibbānan” — nghĩa là Nibbāna hay “trạng thái mát mẻ” đạt được khi dần dần diệt trừ tham, sân và si. Hành vi đạo đức giúp diệt hai yếu tố đầu, còn việc đọc và nghe Dhamma giúp diệt yếu tố thứ ba.
- Knowingly or unknowingly, one will be completing the 37 factors with time.
Dù có ý thức hay không, theo thời gian, người tu tập cũng sẽ tự hoàn thiện 37 yếu tố ấy.
- It starts with the mundane path but accelerates when switching to the lokuttara
Sự tiến triển khởi đầu bằng con đường thế tục, nhưng tăng tốc khi chuyển sang con đường lokuttara (siêu thế).
- The “Bhāvanā (Meditation)” section could be useful in following a systematic path. However, reading different posts on varying subjects is essential, starting with the “Moral Living and Fundamentals” section. It could be challenging to grasp advanced topics on “Anicca, Dukkha, Anatta” without grasping the fundamentals.
Phần “Bhāvanā (Meditation)” có thể hữu ích để đi theo một lộ trình có hệ thống. Tuy nhiên, việc đọc các bài viết về nhiều chủ đề khác nhau là điều thiết yếu, bắt đầu từ phần “Moral Living and Fundamentals.” Sẽ rất khó để hiểu các chủ đề nâng cao về “Anicca, Dukkha, Anatta” nếu chưa nắm vững nền tảng căn bản.
